Diễn đàn X-Cafe    

Quay Lại   Diễn đàn X-Cafe > IV. Góc thành viên > Giao lưu - Thư giãn

Trả lời
 
Công cụ
  #21  
Cũ 23-04-2008, 09:49 AM
thecmec's Avatar
thecmec thecmec is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Apr 2006
Địa điểm: Everywhere I want to...
Bài viết: 2,922
Cảm ơn vì bài viết: 528
Được cảm ơn 1,090 lần trong 608 bài viết
thecmec is on a distinguished road
Tại sao Trịnh Hội muốn ly dị Nguyễn Cao Kỳ Duyên?

Các bà nói chung ở Hải ngoại rất sợ các đấng lang quân của mình về VN..
Nơi từng "chôn sống" uy tin của rất nhiều đàn ông hải ngoại vì những nghèo đói tạo nên những mĩ nữ trẻ trung cần tiền : Xin các bạn đọc bài viết dưới đây dù mới chỉ là dư luận đồn thổi còn phải được kiểm chứng...nhưng cũng làm chúng ta suy nghĩ lại về tư cách con người.

Bài viết của tác giả : longfellow

Click the image to open in full size.


Gần đây longfellow tôi có biết dư luận tại VN xôn xao trong giới có tiền, quyền hành và ăn chơi tại VN về việc Trịnh Hội (đang ở tại VN làm việc cho 1 hãng luật của Mỹ tại hà Nội) đang cặp kè với 1 cô chiêu con cán bộ cấp cao có tiền và quyền hành của VC. Và Trịnh Hội có ý định sẽ ly dị Nguyễn Cao Kỳ Duyên con ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu phó tổng thống VNCH để lấy cô con gái cán bộ cao cấp của VN đó. Tại sao có cớ sự như thế?

Giới am hiểu chuyện thời sự tại VN cho biết rằng:

- Cô chiêu con cán bộ cao cấp đó có bố là cán bộ VC cao cấp trung ương đảng quen biết các tay chóp bu lảnh đạo của Đảng. Ông ta có rất nhiều quyền hành tại VN và đang công tác trong ngành xuất nhập khẩu của NN và có quyền hành quan trọng trong việc phân phối quota xuất khẩu (1 công việc hái ra kim cương và Mỹ kim tại VN vì ai muốn xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài phải biết lo chạy chọt với ông ta để xin được quota nhiều hơn). Nên gia đình ông ta có rất nhiều tiền của ăn hối lộ lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ. Ông ta sở hửu nhiều đất đai, nhà cửa, riêng căn biệt thự của ông ta tại Hà Nội trị giá hàng chục triệu đô la tọa lạc tại khu vực chính của Hà Nội. Nhà ông ta có bể bơi riêng, vườn cây ăn trái và 1 sở thú nhỏ. Trong nhà có 1 khu vực dùng làm chổ chiếu phim với dàn âm thanh máy móc hiện đại của Nhật lên tới hàng trăm ngàn đô la Mỹ. Căn biết thự đó có gắn camera hiện đại và hàng rào tự động đóng mở mắc tiền cho xe hơi ra vào.Nhà có khu vực dành cho party, tiệc tùng và có cả 1 quày rượu ngoại đắt tiền.

Ông ta có nhiều xe hơi riêng. Các con ông ta có tiền đi du lịch và shopping ở hầu hết các nước châu Á trong khu vực và kể cả châu Âu, Mỹ như Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Úc, Đức, Canada, Anh Quốc... để vui chơi hưởng thụ và mua về những hàng hóa đắt tiền bằng 3, 4 năm làm lụng của 1 người lao động bình thường tại VN.

Ông ta có cả 2 cậu ấm đang du học tại Hoa Kỳ về ngành bang giao quốc tế và kinh tế đối ngoại.
Riêng cô con gái mà đang cặp bồ với Trịnh Hội thì cô ta đã tốt nghiệp đại học kinh tế ngoại thương tại Hà Nội và có cả 1 chiếc BMW đời mới, cô ta luôn thay đổi chiếc BMW cô ta dùng, 1 chiếc xe BMW cô ta chỉ chạy đời đó cao lắm là 2 năm thì đổi đời mới liền. Cô gái này dĩ nhiên cũng làm trong ngành ngoại thương vì bố cô ta dành chổ ngon cho cô ta sau khi cô ta tốt nghiệp đại học ngoại thương. Tiền quá nhiều nên cô ta cũng chắng muốn có 1 anh chồng hay bạn trai giàu có nữa, mà cô ta chỉ muốn thứ khác để có dịp khoe với chị với em bè bạn là kiếm 1 anh chồng hay anh bồ cao ráo, ăn nói, có học thức và lịch lảm, ti ếng Anh nói như gió với người ngoại quốc làm ăn tại VN, và Trịnh Hội lọt vào mắt cô ta với đủ tiêu chuẩn mà cô ta tìm kiếm.

Cô ta nói cô ta rất hảnh diện với bạn bè trong giới quý tộc và trong giới ăn chơi Đỏ tại VN là Trịnh Hội đem lại cho cô ta sự hảnh diện và kiêu hảnh vì “Gái có tiền, đẹp còn trai thì có tài” thật là xứng đôi.
Cô ta xứng đôi với Trịnh Hội hơn là Kỳ Duyên so với Trịnh Hội.
- Riêng đối với Trịnh Hội thì có làm việc chăm chỉ, có bằng làm luật sư làm cho hãng của Mỹ thì cao lắm thì 1 tháng kiếm được 10,000 Mỹ kim trong khi số tiền đó 1 tháng đối với cô gái con cán bộ cao cấp kia chỉ là đồ bỏ vì cô ta làm trong ngành xuất nhập khẩu và phân phối quota như bố thì cô ta không nói thì cũng có nhiều người chạy lại nhà cô ta đút cho cô ta ăn kim cương, vàng hay đô la Mỹ để cô ta phân phối quota nhiều hơn để hàng hóa của họ đem đi xuất cảng, buôn bán ra nước ngoài nhiều hơn. Với tiền của và 1 ngồi trên 1 mỏ vàng như vậy thì Trịnh Hội phải so sánh những gì mà cô vợ già Nguyễn Cao Kỳ Duyên có được so với cô gái này.
Cô ta hơn hẳn Nguyễn Cao Kỳ Duyên về tiền bạc, của cải.
-Trịnh Hội cũng thích và bị mê hoặc bởi cô gái con cán bộ VC cao cấp đó vì gia đình cô ta có quyền hành tại VN trong khi Nguyễn Cao Kỳ Duyên không có quyền hành gì tại Mỹ cả. Trịnh Hội sẽ dựa vào quyền lực của bố cô chiêu này để làm nên sự nghiệp tại VN dễ dàng trong khi Kỳ Duyên không giúp anh ta làm nên việc đó.
Cô ta hơn hẳn Kỳ Duyên về quyền lực.
-Nếu so với Nguyễn Cao Kỳ Duyên thì cô gái này chưa quá 26 tuổi, lại xinh đẹp vì cô ta được sinh ra bởi 1 người bố từng là 1 anh sinh viên đẹp trai, cao ráo, học thức đã từng du học bên Liên Xô và Đông Đức, về nước được cân nhắc lên trong ngành ngoại thường nên ông ta có tiền và quyền và dư khả năng lấy được mẹ cô ta là 1 phụ nữ có sắc đẹp và vóc dáng như người mẩu, làm chiêu đải viên cho VietNam Arirlines (giống Cao Kỳ lấy chiêu đải viên VNCH khi xưa là bà Tuyết Mai).
..................................

Cô ta hơn hẳn Kỳ Duyên về tuổi tác và sắc vóc..... Trịnh Hội nghĩ tại sao anh ta phải sống với cô vợ già Kỳ Duyên “Có tiếng mà không có miếng” chi cho khổ, phí thời gian hưởng thụ.

Chúng ta chờ xem việc Trịnh Hội và Kỳ Duyên ly dị sẽ gây xôn xao tại các cộng đồng người Việt tại hải ngoại, ....(bỏ 1 đoạn rất ngắn)

Chỉnh sửa lần cuối bởi thecmec vào 23-04-2008 lúc 09:58 AM
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #22  
Cũ 03-07-2008, 04:57 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Tình Cuối
Phan Kim Nhàn (vietbao)

Phần đông các thi sĩ, nhạc sĩ đều làm thơ, viết nhạc ca tụng hay thương tiếc "Mối tình đầu", ít khi thấy ai nghĩ đến "Mối tình cuối". Có lẽ vì xã hội phong kiến của VN ta theo văn hóa Trung Hoa ngày xưa là "Phu xướng phụ tùy. Phu tử tòng tử" nên ép người phụ nữ vào chỗ không thể sống theo ước muốn của riêng mình được!

Nhưng ở xã hội bây giờ, hơn nữa ở xã hội văn minh như ở Mỹ này thì có khác. Cuộc sống rất là cởi mở, cha mẹ con cái tuy thương yêu nhau nhưng tôn trọng tính tự lập (18 tuổi là tự lập rồi) và tự do của nhau.

Nàng thấy rằng "mối tình cuối" cũng đẹp không thua gì "mối tình đầu" khi máu còn chảy về tim và quả tim còn đập là còn rung động theo cảm xúc của con người. Và con người càng lớn tuổi thì càng chín chắn hơn, đằm thắm hơn, tỉ mỉ hơn và lo lắng chu đáo cho nhau hơn vì họ quý từng ngày, từng giờ phút được sống với nhau trong cảnh muộn màng này.

Hôm nào trời trở lạnh là họ nhắc nhau phải mặc áo ấm khi ra đường, phải đội nón để che nắng gió vì tóc của chàng bị hói và rụng gần hết. Chăm sóc cho nhau từ món ăn thức uống sao cho bổ dưỡng mà không bị tăng huyết áp hay tăng cholestérol.

Mỗi sáng, họ cùng dắt tay nhau đi bộ quanh khu phố, vừa nói chuyện thân mật với nhau vừa vận động cơ thể cho khỏe mạnh. Cuối tuần cùng nhau đi hội "Cao Niên", khiêu vũ, hay gặp bạn bè, chuyện trò trao đổi tin tức với nhau. Cùng đi dự đám cưới con các bạn hay sinh nhật hay tham gia các công tác cộng đồng. Lâu lâu đi Réno hay Las Vegas do hội "Cao Niên" tổ chức cho người lớn tuổi. Đi thăm các con cháu, cùng nhau du ngoạn các thắng cảnh.

Cái sung sướng nhất của người già là không phải lo ngày mai phải thức dậy sớm để đi "cày", không phải lo nợ cơm áo hay nhà ở. Nhà thì có chính phủ cho tiêu chuẩn "Housing". Tiền thì hàng tháng có tiền SSI hay tiền hưu trí đủ sống một cách thoải mái. Lâu lâu có dư ra gửi về VN cho bà con hay bạn bè hay giúp đỡ kẻ cô nhi tật nguyền. Họ cũng đóng tiền vào quỹ "Tương Tế Việt Nam" để khi họ qua đời có tiền đủ làm "tang ma", không làm phiền đến con cháu phải lo.

Tất cả thì giờ của họ là lo thương yêu, chăm sóc lẫn nhau cho được sống lâu và hưởng phước cùng nhau cho hết cuộc đời còn lại này.

Nàng thì… sau khi bị "ly dị" ngoài ý muốn, nàng quá đau buồn, và cũng quá "xấu hổ" nữa. Bao lâu nay Nàng "hãnh diện vì đã chờ chồng 9 năm đi tù Cộng Sản, nuôi con và cho vượt biên 2 đứa lớn (1 ở Pháp và 1 ở Mỹ) và chờ đợi ngày chồng về. Tuy biết là vô hạn định, tuổi xuân trôi qua không luyến tiếc chỉ hy vọng một ngày nào đó được đoàn tụ gia dình trong hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc thật là khó tìm. Đến tuổi này rồi mà Nàng còn để cho vuột mất.

Có phải là Nàng đã quá tin chồng? Chồng Nàng đã từng nói với Nàng sau khi đi tù về: "Em là người đáng tôn thờ, đã chờ chồng và nuôi con." Lời nói như gió thoãng mây bay khi người thứ 3 xuất hiện nhất lại là người tình xưa thì Nàng đành chịu thua thôi. Nhiều người bạn an ủi Nàng, cho đó là "hết duyên, hết nợ rồi, hãy quên đi và vui sống".

Thời gian là một liều thuốc tiên, làm cho ta nguôi ngoai và cuộc đời luôn luôn vẫn tươi đẹp nếu ta biết nhìn đời bằng cặp mắt màu hồng. Nước mắt cũng là một liều thuốc rửa sạch những "cát bụi" vướng trong mắt ta và làm trôi đi những u buồn của cuộc đời này… Có lẻ Nàng ở hiền nên gặp lành và "Chàng" đã xuất hiện trong cuộc đời còn lại tưởng như bỏ đi của Nàng!

Chàng là một cựu sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đoạt chức "Vô địch bóng bàn VN" vào năm 18 tuổi, và sau đó đoạt chức "Vô địch bóng bàn Á châu, đánh đôi với danh thủ Mai Văn Hòa tại Nhật Bổn". Sau thành tích vang dội này, khi về nước, cả phái đoàn VN được Tổng Thống Ngô Đình Diệm vời vào dinh Độc Lập khen thưởng. Chàng đã từng đại diện cho VN đi tranh giải tại nhiều quốc gia trên thế giới và đã đoạt được 6 huy chương Vàng, 2 huy chương Bạc và 2 huy chương Đồng. Và xin nói nhỏ là Chàng đã từng là "Thần tượng" của Nàng khi Nàng còn trẻ. Các anh trai của Nàng là Vô địch bóng bàn Dalat và miền Trung; Phan Văn Thọ anh thứ tư của Nàng hiện ở Pháp, cũng nhờ Chàng dìu dắt mà đã một lần khoác áo đại biểu cho VN đi tranh giải tại Pháp và sau đó đã đi học khóa phi công tại Marakech và định cư tại Maroc; và Nàng cũng là Nữ Vô địch bóng bàn Dalat. Gia đình Chàng và Nàng rất thân thiết với nhau từ khi Nàng mới được 13 tuổi, Chàng đã coi Nàng như một cô em gái nhỏ.

Chàng đã đi tù Cộng Sản mất 8 năm. Khi trở về thì vợ và 3 con nhỏ đi vượt biên và bị mất tích, thật là quá thương tâm! Hai con trai lớn của Chàng, một ở Mỹ, một ở Pháp và cô con gái lớn nhất có gia đình ỏ VN. Một thời gian sau Chàng đã lập gia đình lại, có thêm hai con, và sau đó đã được đi Mỹ theo diện HO. Tới Mỹ thì xảy ra chuyện "ngả rẽ tâm tình", vì quá đau khổ Chàng đã "quyên sinh" nhưng không dứt được nợ trần!

Rồi một ngày đẹp trời Chàng và Nàng đã gặp nhau tại Hội Cao Niên sau mấy mươi năm xa cách…

Hôm ấy Nàng cùng chồng đưa một người bạn gái đến đây mong giúp người bạn bớt cô đơn nên đã giới thiệu bạn và "ông anh lớn" đồng cảnh ngộ thông cảm nhau tìm đến nhau để an ủi nhau… Đi chơi chung một thời gian, ý tốt của Nàng không được đền đáp mà chồng nàng và người bạn gái kia "chấp cánh bay xa" để nàng lại "cô đơn" một mình!

Biết được sự việc và lo sợ Nàng sẽ quẩn trí như mình lúc trước, Chàng đã gọi điện thoại khuyên can Nàng hết lời. Chàng nhiều lần ngỏ ý muốn gặp Nàng nhưng Nàng cứ khăng khăng "không muốn tiếp bất cứ ai", trốn lánh tất cả bạn bè; ngoài giờ làm việc chỉ thu mình trong nhà, chịu đựng sự đau khổ một mình… Cho đến khi các con tổ chức sinh nhật cho mẹ, đã mời tất cả bạn của Mẹ đến dự, trong số ấy có Chàng.

Chàng đã tặng Nàng lọ nước hoa "Lancôme" và khi Nàng hát bài "Mùa Xuân không còn nữa" thật buồn và rơi lệ thì Chàng cũng thông cảm mà rơi lệ… Và "hai tâm hồn lớn" ủa quên "hai tâm hồn đau khổ" đã gặp nhau rồi mà vẫn không tự biết.

Các con Nàng khuyên nhủ Mẹ nên tìm một người bạn cho vui… Nàng suy nghĩ và quyết định "tân trang nhan sắc" lại cho tươi tắn hơn… Chàng đã đến thăm Nàng sau khi được Nàng gửi tặng một băng cassette với những bài hát "thất tình", "tình phụ" của Nàng và mang theo một quả "sầu riêng" thật to để chia sẻ nỗi buồn cùng Nàng.

Chàng mời Nàng đi dùng cơm tối tại Nhà hàng Thành Được. Là bạn của Chàng khi xưa, nên khi gặp nhau Thành Được đã chào "A! Chào Anh Chị", nhưng cả Chàng và Nàng, không ai buồn đính chánh. Chàng là người ít nói nhưng tâm sự với Nàng là: "Trong đời anh, chỉ có các cô, các bà mê tài anh mà tỏ tình, chứ anh không bao giờ nói trước hết". Nàng nghe vậy thì im lặng, tự ái của người phụ nữ không cho Nàng thốt lời gì.

Nàng tâm sự: "Trong đời em em rất ghét làm bếp vì vậy mà em nấu ăn dở lắm!" Chàng trả lời: "Anh biết nấu ăn".

Rồi một hôm Chàng phải đi Canada dự đám cưới con của một người bạn thân. Chiều cùng ngày đi làm về có lời nhắn trong máy: "Anh sắp lên máy bay đây. Em nhớ giữ gìn sức khỏe nghe." Qua ngày sau lại một lời nhắn nữa: "Anh đã dự xong tiệc cưới rồi. Trời Canada buồn quá!". Đến ngày thứ ba, Chàng gọi về và nói: "anh buồn muốn chết đi được. Muốn bay về ngay với em và… và Nhớ Em quá!" Đó là câu mà Nàng "chờ đợi" Chàng thốt ra lời.

… Và một đám cưới đã kết hợp đôi "trai tài gái sắc" mà "răng đã long và đầu đã bạc" trong "mối tình cuối" này nơi đất khách quê người. Dâu và rễ phụ là hai cặp bạn già cũng con cháu đầy đàn. Các con trai của Nàng đảm trách phần quay phim chụp ảnh để Mẹ có hình ảnh đẹp làm kỷ niệm. Tất cả bạn bè và con cái của Chàng và Nàng đều đến chung vui rất đông và chúc "cô dâu chú rễ Loan Phụng Hòa Minh, Sắt Cầm Hòa Hiệp". Những bản nhạc "Và con tim đã vui trở lại", "La vie en rose" đã được các bạn hát để tặng Chàng và Nàng. Các bạn NHS thân yêu của Nàng như Anh Chị Nguyên K 10, các chị Quới K 9, Hồng Loan K 11, Hồng Vân K, Kim Hồng (Huế), và vợ chồng em Phạm Ngọc Diệp K 29 đều có mặt để chung vui với Nàng.

Đám cưới của người Trẻ thì nhiều và thường tình trong thiên hạ. Đám cưới của người Già thật là "hiếm có". Quà cưới cho Nàng, Chàng không có ngọc ngà châu báu hay nhẫn xoàn, mà chỉ có "tấm lòng" và "chiếc huy chương vàng" (đoạt được tại Á vận hội Tokyo năm 1958) duy nhất còn lại, kỷ niệm "Vang bóng một thời" Chàng đã làm rạng rở nền Bóng bàn Việt nam khắp cõi trời Âu-Á. Phần Nàng cũng không có gì quý báu ngoài giọng hát nên đã hát tặng Chàng nhạc phẩm "Niệm khúc cuối" của nhạc sĩ Ngô Thụy Mieen.

…Dù cho mưa…xin anh đưa em đến cuối cuộc đời…
…Tình ơi dù sao đi nữa "Xin vẫn yêu anh…
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #23  
Cũ 07-07-2008, 07:10 PM
LMP2's Avatar
LMP2 LMP2 is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Sep 2005
Bài viết: 1,494
Cảm ơn vì bài viết: 26
Được cảm ơn 241 lần trong 127 bài viết
LMP2 is on a distinguished road
sến alert! sến alert!!

Hôm nay ngồi khiêng lại mấy bài nhạc cũ của tui, nghe lại có một bài làm tui nhớ chuyện tình cũ của tui. Bài đó là bài Chances Are, của Bob Seger và Martina McBride. Lúc tui đang tìm cách làm quen nhỏ đó tui thường nghe bài này hòai trên radio, và nó có cảm giác như là tui hy vọng "chances are I'll see you somewhere in my dreams tonight". Và nói thật mỗi khi tui mơ thấy nhỏ đó trong mơ là ngày đó là ngày tuyệt vời, tui có thể ngồi tương tư cả ngày về giấc mơ tối hôm qua mà chả học gì trong khi chắc cái mặt như thằng khùng.

Chances Are

Chances are you'll find me
Somewhere on your road tonight
Seems I always end up driving by
Ever since I've known you
It seems you're on my way

All the rules of logic don't apply
I long to see you in the night
Be with you 'til morning light

I remember clearly how you looked
The night we met
I recall your laughter and your smile
I remember how you made me
Feel so at ease
I remember all your grace and your style

And now you're all I long to see
You've come to mean so much to me

Chances are I'll see you
In my dreams tonight
You'll be smiling like the night we met
Chances are I'll hold you and I'll offer
All I have

You're the only one I can't forget
Baby you're the best I've evermet

And I'll be dreaming of the future
And hoping you'll be by my side
And in the morning I'll be longing for the night
For the night

Chances are I'll see you
Somewhere in my dreams tonight
You'll be smiling like the night we met
Chances are I'll hold you and I'll offer
All I have

You're the only one I can't forget
Baby you're the best I've ever met


Bài thứ nhì là bài Looking Through Your Eyes. Tui chưa bao giờ thấy có đôi mắt nào mà đẹp như đôi mắt của nhỏ này. Hình như từ những ngày tui quen nhìn vào mắt của nó, riết sau này tui quen nhỏ nào tui cũng nhìn vào mắt họ làm như là muốn tìm lại hình ảnh của nó.

Look at the sky
Tell me what do you see
Just close your eyes
And describe it to me
The heavens are sparkling
With starlight tonight
That's what I see
Through your eyes

I see the heavens
Each time that you smile
I hear your heartbeat
Just go on for miles
And suddenly I know
My life is worth while
That's what I see
Through your eyes

Chorus:
Here in the night
I see the sun
Here in the dark
Our two hearts are one
It's out of our hands
We can't stop what we have begun
And love just took me by surprise
Looking through your eyes

I look at myself
And instead I see us
Whoever I am now
It feels like enough
And I see a girl
Who is learning to trust
That's who I see through your eyes

And there are some things we don't know
Sometimes a heart just needs to go
And there is so much I'll remember
Underneath the open sky with you forever


Để tui kể cho mấy bác nghe.

Hồi lúc tui học khỏang lớp 10, tui mê nhỏ này học chung trường. Nó người gốc Eastern European cho nên nó đẹp kinh khủng! Có thể là đứa con gái đẹp nhất mà tui gặp được. Hehe, cái này có thể là mê rồi mù rồi nghĩ thế ;)

Hồi đó thì chưa có kinh nghiệm, cho nên dê gái hơi... khổ. Nếu bây giờ thì lướt qua lướt lại là "hey, you wanna go to the movie sometime" rồi, heh.

Nhưng hồi đó tui phải tốn công dữ lắm. Tui canh nhỏ đó đi lối nào là tui chờ sẵn và nhìn vào đôi mắt nàng đắm đuối
Tui canh xe school bus của em về đường nào rồi tui đi chung, dù nhà tui ở cách xa nhà nó khỏang 1 tiếng đi bộ ngược về! Chưa kể tui phải xạo để lên được xe school bus cùng em nữa chứ vì tui đưa cớ là đi chung với thằng bạn, thằng đó ở cũng gần nó.

Làm đâu khỏang hơn nữa năm học, tới ngày cuối năm học. Tui nói cuối là ngày cuối luôn. Buổi trưa đó, thấy tui chắc khổ quá mà ngu nữa cho nên một thằng mạnh miệng mới nói thẳng với nhỏ đó là tui thích nó và thằng đó hỏi nó go out giùm tui luôn!!
Và nhỏ đó nói nó không thể. Vì ngày mai hết học là gia đình nó dọn đi rồi... và tui không bao giờ thấy nó nữa.

Mùa hè đó là mùa hè chán nhất evar của tui! Có thể tình đẹp nhất là tình dang dỡ không bao giờ xảy ra vì với bao nhiêu nhỏ tui biết, tui vẫn nhớ nhỏ đó nhất dù không một lần nào được nắm tay nó nữa.

Giờ dòm lại với bao kinh nghiệm xem phản ứng con gái thì tui thấy rằng tui có cơ hội thật sự, nhưng vì hồi đó nhát gái quá cho nên giờ nhớ lại tui cũng còn hối hận. Nhưng mà nếu dòm lại với bao nhiêu là ngu về gái thì tui không thể đếm hết được. Nhưng một cái ngu mà tui bỏ lập tức sau khi chuyện đó xảy ra là tui mạnh miệng hơn, muốn là nói thẳng liền...

Tức nhiên trừ cái lần mà tui quen nhỏ người Việt sau này, tui hỏi nó go out rồi nó nói sao hỏi dễ vậy (nó là Vietnamese). Tui trả lời rằng hồi xưa tui mê nhỏ kia và vì cái tội nhát gái cho nên tui đã mất đi tất cả. Sau đó vì cái đầu óc thông minh tới trời của tui ngồi kể cho nó nghe tui nhớ nhỏ kia tới cở nào, nhỏ kia đẹp cở nào.... sau đó vài ngày nó nghĩ chơi tui luôn.

guess what bài học thứ nhì là gì?

The scary thing là biết bao năm đã qua, nhưng hình như lúc nào tui quen nhỏ nào tui cũng so sánh với nhỏ hồi high school ấy. Tui đâu còn nhớ nó dòm ra sao đâu, thành ra làm như tui so sánh với cái không thể so sánh được cho nên tui thường kết cuộc là... không vui lắm với người tui đang quen.
__________________
don't feed the troll!
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #24  
Cũ 12-08-2008, 07:01 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn
Tự Do (vietbao)

Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.

Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:

"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về địa ngục trần gian.

19 tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.

Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

25 năm sau tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong (1981). Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, thành người tị nạn cộng sản.

Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).

Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà nội.

Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.

Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân, trên sân trại. Tôi đã kịpgiang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.

Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.

Người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.

Một đêm mưa bão, Mai bị tên trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba" !

Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.

Con đã có Má, có Ba. Má bồng Con, Ba xách túi, Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các Chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn Con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho Con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha Con đó!".

Mai đã nhất định không đi kinh tế mới, tôi đã trốn công tường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân, nước Việt sẽ không trở thành cộng sản, chỉ có số nhỏ đang cầm quyền .

Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ.

Căn Apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.

Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!

Nhìn con ngon giấc ngủ Thần Tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người .

Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.

Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boatpeople", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.

"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.

Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.

Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!". Bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".

Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.

Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.

Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.

Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa Đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.

Cũng như Má Jen, Mai không thích xa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung , miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.

Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng eMail, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một Gia Đình thật sự yêu thương.

"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con". Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.

Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 foot, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.

Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.

Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình.

Tháng Chín, sang Thu, se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.

Người cộng sản muốn làm Hung Thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì xụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung Thần đã chết.

Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc GiaViệt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.

Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt Hung Thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người Lính chiến.

Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn Chồng.

Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.

Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #25  
Cũ 10-09-2008, 05:01 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Ở Lại
Tim Nguyễn (vietbao)

Lâu lắm rồi Nhân mới găp lai chị Duyên. Ngày chị Duyên ra đi Nhân nhớ lúc ấy anh mới hơn hai mươi tuổi đầu, chập chững những bước đầu đại học, mải mê đèn sách. Đời của Nhân có lẽ dính liền với đèn sách vì mải mê ấy Nhân đã có từ hồi còn nhỏ đến lên năm mười sáu đã phải đeo cặp kiếng cận dày cộm. ''Thằng này chắc mai mốt lấy cuốn sách làm vợ lắm má à!'' chị Duyên thường đùa như vậy.

Lâu lắm rồi không gặp lại Nhân tưởng hai chị em sẽ có rất nhiều điều để nói với nhau nhưng thật ra chẳng ai muốn nhắc lại kỉ niệm ấu thơ; dĩ vãng gần càng không muốn nhắc vì đường hôn nhân của cả hai đều gãy gánh giữa đàng. Kỉ niệm chỉ là vùng đất trú cho những cánh chim non mới bước vào đời lần đầu tiên bị phong ba bão táp, khi những câu hỏi về cuộc đời chưa có lời giải đáp, khi những vết thương đầu đời còn làm đau đớn khôn nguôi.

Tuy không hỏi nhưng qua mẹ, Nhân biết được chuyện đổ vỡ của chị. Khi vừa sang đất mới, thấy mình thua xa những đồng hương đã qua lâu, hai anh chị vùi đầu vào công việc để kiếm tiền mà sao nhãng việc dìu dắt cháu Toàn, lúc đó đang ở tuổi thiếu niên; đến khi nghe cảnh sát báo tin con mình chết vì xài ma tuý quá lượng hai người mới ngã ngửa như chợt tỉnh cơn mê làm giàu. Và đổ vỡ bắt đầu từ đó. Anh Tiến, người chồng cũ của chị, trong cơn giao động sau cái chết của đứa con trai duy nhất, đi tìm nguồn an ủi trong vòng tay cuả một giáo phái mà người sáng lập là một sư bà chuyên hô hào tận thế gần kề và thuyết pháp cứu nhân độ thế bằng những màn Karaoké và trình diễn thời trang ngoạn mục, đồng thời cũng rất hậu hỉ với những nghệ nhân sẵn lòng ghé qua ca tụng công đức cuả người.

Hình như tới một thời điểm nào đó ám ảnh của con người không còn là quá khứ mà là tương lai gần: tuổi già sắp đến.

Ở những năm non hai mươi, tương lai còn rất mù mờ, nhiều cánh cửa mở ra, ta phân vân không biết phải chọn con đường nào. Trên ba mươi tuổi, vô tình hay cố ý, may mắn hay xui xẻo, ta đã bước qua một ngưỡng cửa và dấn bước sâu trên một con đường, bước một cách máy móc hay chủ động, kiếm được tiền nhiều ít, bận rộn vợ con hoặc còn cô đơn, cuộc sống vô hình chung đơn điệu. Từ ngoài năm mươi, da kém tươi, mắt mất dần tinh anh, gân cốt bớt dẻo dai... những biến đổi của cơ thể báo hiệu một tương lai không mấy sáng lạn là tuổi già, đoạn cuối cuả cuộc đời với cái chết là dấu chấm hết. Nỗi ám ảnh ấy làm con người hoặc tự huỷ hào hùng bằng cách ôm cứng lấy dĩ vãng vàng son như một người say nhảy xuống sông đòi bắt vầng trăng, hoặc bắt đầu thành tâm phấn đấu dọn chỗ nằm: người mua bảo hiểm nhân sinh, kẻ tìm về tôn giáo, cúng dường, bố thí, ban ơn ... tựu chung mua bảo hiểm cho đời sau. Nhân thấy chị Duyên cũng không thoát khỏi qui luật ấy.

Chị đã ngoài năm mươi, nhan sắc không còn mặn mà như xưa và thời gian dài sống ở nước người đã thay đổi chị rất nhiều. Chị có phần táo bạo hơn trong những tính toán cho mình cũng như cho người trong gia đình, điển hình là cho Nhân.

Sau khi đã bảo lãnh mẹ xong, biết tin Nhân đã ly dị với Ngọc, chị liền đề nghị bảo lãnh Nhân và cu Bi sang du lịch trong lúc tìm người làm hôn thú để hai cha con Nhân được ở lại. Chi phí cho thương vụ chị cho mượn, chừng nào Nhân đi làm sẽ trả lại chị sau.

''Thật ra cũng hơi phiêu nhưng muốn ở lại phải liều, chỉ cần kiếm được người chơi sòng phẳng và rõ ràng. Nói vậy chứ chị đã nhắm một cô Việt Nam làm chung hãng, cô này cũng ly dị, ở vậy đi làm nuôi mẹ già, đang cần tiền mua nhà nên sẵn lòng làm giấy tờ. Chị cũng nói rõ với cô ta rồi, sau ba năm sẽ làm giấy tờ ly dị, tiền bạc chị đã thương lượng hẳn hoi. Cũng may gặp người quen biết, nếu không còn phiêu hơn nhiều!''

*

Cu Bi còn nhỏ, qua đây như rớt vào một chi nhánh của Walt Disney, nào phim hoạt họa, nào trò chơi điện tử, nào đồ chơi thường, lại có bà nội bên cạnh chăm sóc nên không chịu về.

Phải nói thời gian cu Bi ở với bà nội bên Việt Nam còn nhiều hơn thời gian ở với mẹ nên lúc Ngọc xách va-li ra đi, tới hôn Bi, nó chỉ hỏi ''Má có về thăm con không má?'' để nghe câu trả lời ''Thỉnh thoảng má sẽ về thăm Bi'' rồi thôi.

Chẳng bù với hôm tiễn bà ra phi trường, khi biết chắc bà đi lâu lắm mới về, rằng từ rày trở đi sẽ không được ở bên bà nữa, cu Bi mới oà khóc thảm thiết làm bà cầm lòng không đậu cũng khóc bù lu bù loa.

Nhân thấy không có gì níu kéo anh trở về. Ở lại anh tìm lại được một gia đình dù không trọn vẹn nhưng cũng đủ làm nền tảng cho con anh lớn lên trong những tình cảm thân thương, có bà, có bác gái, có cha. Nhân đã bắt đầu quen với những điều không trọn vẹn từ ngày Ngọc bỏ cha con anh để lao vào một trò chơi mới đầy hào nhoáng và xa hoa.

Một đôi khi nhìn lại Nhân không biết nên buồn hay vui. Tình cảm anh dành cho Ngọc mang nhiều nghiã hơn tình. Nhân lấy Ngọc là do sự sắp xếp của má anh vì thấy người con trai độc nhất ra trường đi dạy rồi mà tối ngày cứ làm bạn với cuốn sách nên nhờ người mai mối Ngọc cho Nhân. Sau này khi Ngọc bỏ đi rồi, mỗi lần nhắc lại bà thường chặc lưỡi ''Có ai ngờ nó lại thay đổi đến vậy, hồi xưa cô ấy ngoan hiền thùy mỵ biết bao, lại nết na đạo đức'' rồi thở dài ''đồng tiền đánh chết cái nết'' như tự an uỉ đã tìm ra nguyên nhân cuả sự thay đổi ấy.

Buồn chia ly. Có cuộc chia ly nào không mang ý nghĩa bi thảm? Buồn cho cu Bi mất đi sự chăm lo của bàn tay người mẹ. Hoang mang phải có của một thay đổi đột ngột làm xáo trộn những thói quen thường ngày: mâm cơm bày sẵn, chiếc áo ủi xong cùng những lời dặn dò anh đừng quên nạp phiếu mua cái này cái kia ở phòng lương thực trường ...

Nhưng sau thời gian buồn chán hoang mang đó, Nhân ngồi nghĩ lại và thấy vui cho Ngọc đã tìm được những điều mong muốn: tiện nghi vật chất và thảnh thơi không lo toan cuộc sống ngày, Nhân hy vọng như vậy. Thời gian chung sống với anh là những chuỗi ngày lo toan cơ cực. Lương tháng hai người gộp lại chỉ vừa đủ ăn chứ đừng nói đến ăn ngon. Mỹ từ ấy chỉ có được mỗi lần có quà cuả chị Duyên gửi về. Sống không mang đúng ý nghiã của nó mà chỉ là một sự sống còn, sống lây lất như những người mua vé hạng chót, nằm chất chồng lên nhau như cá mòi trong khoang tàu cũ kĩ tanh hôi, không thể ngọ nguậy, không thể mơ xa.

Nhân lại không phải là loại người năng nổ. Anh đồng ý với những gì mình có, không với ý nghĩa của một cam chịu vì đó là mệnh số mà là một bất chấp vì biết mình đã có một thế giớí riêng. Nhân không biết mánh khoé, không biết bợ đỡ kiếm điểm hoặc đút lót lấy lòng. Vi thế dù vài lần Nhân được tổ kỹ thuật đề cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ ở nước ngoài nhưng cuối cùng ban giám hiệu cũng cho những người quen không dính líu gì về chuyên môn đi thay.

Nhiều khi Nhân tự nhủ cũng phải làm như mọi người để cuộc sống của vợ con khấm khá hơn nhưng có cái gì đó trì anh lại. Vì thiếu can đảm. Can đảm không phải là một đức tính, mà là một thói quen, mà Nhân thật không quen can đảm. Tính của Nhân có thể tóm gọn ở một chữ ''gàn'' . Tĩnh từ chung thông dụng mà người đời thường gán cho những ai không có cùng suy nghĩ và không hành động giống như họ. Nhân ở trong tập hợp cuả những người ngoài luồng đó.

Riêng Ngọc sau này nghe lời khuyên của bạn bè, bỏ chân cô giáo tiểu học đi làm tiếp viên trong một nhà hàng lớn, có tiền dư giả, sắm xe riêng và ngày càng xa gia đình.

Cho đến một hôm sau buổi dạy, anh ghé nhà một đồng nghộiệp để chỉnh dùm chiếc máy vi tính; từ nhà người bạn ra, Nhân tình cờ thấy Ngọc ngồi sau xe cuả một người đàn ông dáng dấp hào hoa với những cử chỉ vượt quá giới hạn của tình bạn, Nhân đề nghị ly dị và Ngọc chấp nhận ngay. Hai người thoả thuận để cu Bi ở với Nhân và bà nội.

Cuộc chìa ly êm thắm, không chén bể diã bay, không bàn xô ghế đổ.

*

Đám cưới thật tưng bừng. Chàng rể là một thương gia thành công theo lời chị Duyên, còn cô dâu là một cô gái Trung Hoa trẻ. Đám cưới cơ hội như Huyền Trân Công Chúa ngày xưa bị gả cho vua Chiêm. Chỉ khác là ở đây có sự ưng thuận của cả đôi bên. Cơ sở của hai bên sẽ gộp lại để bành trướng trên thương trường. Gia đình chàng rể hình như trước đây ở chung xóm với gia đình Nhân mà anh không nhớ vì những ngày còn trẻ ngoài cuốn sách anh ít la cà trong xóm. Cũng đủ để cả gia đình được mời vì ở đây quan trọng là số khách tham dự, càng đông càng rôm rả và nhiều hội vọng thu hoạch tốt.

Nhiều ông bà còn ham chơi nhưng quá tuổi đi hộp đêm, chuyên căn me đám cưới mà tới; nếu quen càng tốt, không rồi sẽ quen, chủ yếu là trả tiền chỗ bằng phong thư, đôi bên đều có lợi.

Gia đình Nhân gồm mẹ, chị Duyên, Nhân và cu Bi chọn một bàn khá xa sân khấu. Tai bà cụ không chịu nổi sức đập của dàn âm thanh hơn ngàn watts đặt hai bên sân khấu.

Chị Duyên rời bàn ra ngoài, sau đó trở lại với một cô gái trong bộ tailleur xanh da trời thật nhạt. Khuôn mặt nàng dễ coi nhưng cặp mắt khá lạnh lùng cuả một người lúc nào cũng ở thế thủ. Cô gái gật đầu chào mẹ Nhân.

Chị Duyên mở lời:

- Giới thiệu với Mai đây là Nhân người em trai mà mình định nhờ Mai làm giấy tờ để được ở lại, còn đây là cu Bi, con trai cuả Nhân.

Rồi quay về hướng Nhân, chị Duyên tiếp:

- Còn đây là Mai làm chung sở với chị, cô Mai đây sẽ gíúp làm giấy tờ cho Nhân ở lại.

Nhân gật đầu lúng túng đưa tay sửa gọng kiếng, không biết có nên đưa tay bắt hay không:

- Chào cô Mai.

Trong khi đó Mai cười nhẹ:

- Giúp gì chị Duyên, thương vụ mà, có lợi Mai mới làm chứ!

Chị Duyên vỗ nhẹ vai Mai:

- Đúng là có lợi cho cả đôi bên, nhưng cũng phải dám làm, Mai giúp tụi này ở chỗ đó.

Mai đáp:

- Làm thương mại phaỉ liều mới có ăn chứ chị Duyên!

Chị Duyên mời mọc:

- Hay là Mai ngồi đây với gia đình Duyên đi, nếu không bận đi với ai... Bàn này là bàn số lẻ, hiểu theo nghiã đen cũng như nghiã bóng! Ngồi nói chuyện một chút với Nhân xem anh ta có phải là người đáng tin cậy hay không. Duyên đã nói với Mai rồi đó, ông Nhân này không thương ai ngoài cuốn sách đâu, mất vợ cũng vì thế!

Mai kéo ghế ngồi cạnh Nhân. Mái tóc nàng cắt kiểu garcon (con trai) trông cứng cỏi nhưng lại rất hợp với bộ jupe-veste đang mặc. Ánh sáng chùm đèn treo trên bàn làm rõ thêm những nếp nhăn quanh miệng. Nàng có bộ mặt của một người quá nhiều thất vọng và đã quen sống với những điều mình có.

Mai bắt chuyện:

- Anh Nhân thấy cuộc sống bên này thế nào?

- Qua đây tôi mới biết kiếm được đồng tiền không phaỉ dễ. Ở bên nhà mỗi lần nhận được vài trăm đô quà của người bên ngoài gởi về, ai cũng nghĩ chắc người thân của mình kiếm tiền dễ lắm chứ đâu biết họ đã dành dụm hoặc hy sinh những khoản chi tiêu riêng để có mà gởi về. Thêm một điều nữa là tôi có cảm tưởng ở bên đây ai cũng hối hả cho việc làm, dường như đó là trọng tâm của cuộc sống hằng ngày. Ở bên kia, người ta chỉ vội vã cho những cuộc chơi, dù đi làm đôi khi cứ nghĩ họ đang đi chơi!

- Cũng dễ hiểu anh Nhân à, xã hội bên này là xã hội tiêu dùng, muốn xài phải có tiền, mà muốn có tiền, nếu không làm chuyện bất lương thì phaỉ đi làm. Có việc làm, có tiền mua nhà mua xe và người ta thấy mình hiện hữu trong xã hội. Mất việc mất cuả không ai biết mình là gì.

Hai người im lặng. Tiếng nhạc từ cặp loa kê hai bên sân khấu vang lên một bài tình ca quen thuộc mà Nhân đã được nghe từ thời còn trẻ. Để có chuyện, anh quay sang hỏi Mai:

- Hình như bài ca này của ông nhạc sĩ X. thì phải? Lâu lắm rồi tôi mới được nghe lại.

Mai gật đầu:

- Đúng vậy anh. Ông này mới mất cách đây không lâu. Mấy ông nhạc sĩ cùng thời cứ kéo nhau đi hết.

- Uả, vậy sao!

- Anh có vẻ ngạc nhiên.

- Tin ông chết làm tôi ngạc nhiên không ít. Mấy năm liền không thấy ông lên vidéo tự vỗ ngực cưỡi cổ nền âm nhạc Việt, tôi tưởng ông đã chết lâu rồi.

Lần đầu tiên Nhân thấy đôi mắt Mai sáng lên một cách tinh nghịch:

- Anh có vẻ cay cú cuộc đời quá nhỉ?

- Tôi rất thật. Tôi chỉ là một ngưởi ngoài cuộc. Văn nghệ với tôi không có duyên nên không có cái đam mê đến độ thích người này ghét người kia. Từ tài năng tới thành danh phaỉ đi qua may mắn và cơ hội. Tôi nghĩ tới ông Y. bạn ông ta, nếu cũng cơ hội như vậy không biết đã sáng danh tới mức nào. Những kẻ nổi tiếng nghĩ rằng họ được người khác ngưỡng mộ nhưng họ biết đâu đó chỉ là sự pha trộn giữa ghen tương và tò mò đầy ác ý.

Vưà lúc ấy, cu Bi chỉ tay lên sân khấu la lớn:

- Nhân ơi! Cô dâu bị ai đánh vậy?

Hai người hướng về sân khấu, cô dâu và chú rể đã xuất hiện. Mai bụm miệng dấu tiếng cười. Nhân không biết trả lời cu Bi làm sao. Cách phục sức của cô dâu, robe voan cắt không đều theo trường phái Bất Cân Xứng với thật nhiều tua mà không cái nào giống cái nào, cộng với quầng mắt tô xanh thẫm, nhìn từ xa không khác nhân vật nữ trong cuốn phim phóng tác từ truyện Những Người Cùng Khổ của văn hào Victor Hugo mà Nhân coi trên ti-vi mấy hôm trước.

Nhân lắc đầu nhìn cu Bi. Ông thần này muốn phang lúc nào là phang không nể một ai, lại toàn những vấn đề nhạy cảm. Trước khi rời nhà, cu Bi cũng đã làm một mẻ với bộ tóc cuả bà. Khi bà vưà mới chuẩn bị xong sửa soạn đi ra, cu Bi hỏi liền bà ơi sao tóc bà hết trắng rồi vậy. Bà nhuộm tóc đó mà. Sao bà nhuộm tóc vậy bà. Để cho trẻ trung chút xíu con, mình đi dự đám cưới mà con. Taị sao bà lại muốn trẻ vậy bà ... cứ tra khảo đến khi bà gắt biểu im mới thôi, dù trong lòng còn ấm ức.

Mai cười với cu Bi:

- Đó là mốt đó cu Bi. Mà sao cu Bi kêu ba bằng tên vậy?

- Bi nghe bác Duyên nói bên này người trong nhà gọi tên nhau cho thân mật.

Mai bật cười thành tiếng:

- Bộ cu Bi thân với ba lắm hả?

- Cu Bi thân với bà nhất, sau đó mới tới ba, thằng bé kể lể.

Nhân nhìn cu Bi, muốn chạy trốn ngây thơ trong cặp mắt sáng của thằng bé mà không được. Ở đây chưa lâu mà cu cậu đã thay đổi nhiều. Mạnh dạn phát biểu, hồn nhiên phá phách thể như đã biết thế giới này từ lâu lắm.

Tiệc cưới tiếp tục trong ồn ào xô bồ và sắc màu như biết bao tiệc cưới khác, chừng như âm thanh náo nhiệt và màu sắc tươi thắm có hiệu lực đẩy xa buồn phiền và làm con người tươi vui hơn, lạc quan hơn, dù chỉ trong chốc lát.

Trời nóng, phòng đầy mùi nước hoa và mồ hôi người. Nhân nhờ mẹ coi giúp cu Bi để ra ngoài hứng gió. Bên hông phòng hội là một khoảnh vườn có những lối đi nhỏ trồng hoa hồng đủ màu,hoa cúc vàng và một vài loài hoa khác mà Nhân không biết. Nhân tìm một băng ghế ngồi nhìn ra đường. Ở đây anh có thể nghe thấy tiếng nhạc cuả chiếc xe bán kem lưu động, những khúc nhạc đầu của bản La vie en rose. Trong vòng tay nhân tình, đời tươi màu hồng thắm; nhưng hoa chóng tàn như khoảnh khắc một bài hát, chỉ còn lại gai đâm và cuộc đời sẽ ngả màu quan tái...

Nhân chống tay ngang hông hít một hơi dài thật khoan khoái, thấy lòng thanh thản. Tương lai dù có ra sao anh cũng sẽ cố sức phấn đãu để cho cu Bi có một tương lai tốt đẹp hơn và cũng phần nào đền bù lại quá khứ đã quá thờ ơ trong việc lo lắng vật chất cho con. Nhân thấy mình có lỗi với cu Bi thật nhiều. Đứa trẻ con sót lại làm Nhân gạt bỏ tự ái và bi quan để nhìn thế giới với một con mắt mới. Cu Bi đã dạy Nhân thấy rằng cuộc đời còn ý nghiã, còn những điều đáng ao ước. Con người có cả khối lý do để ghét, để giận, để phẫn nộ, để đập phá, để bỏ đi nhưng thật ít lý do để ở lại, để sống cùng.
Cảm thấy có người tới sau lưng, Nhân quay lại. Mai vưà đi tới vừa nói:

- Mai có việc phải về sớm. Thôi chào anh Nhân.

Mai định dợm bước nhưng nghĩ sao lại dừng lại. Nàng ngập ngừng:

- Hôm nào rảnh anh nhớ mang cháu tới chơi. Má của Mai thích con nít lắm! Rất tiếc là Mai không thể cho bà một đưá cháu để ẵm cho vui. Mai không thể có con nưã sau lần mổ khi sanh đứa con đầu lòng. Cháu chết khi vừa mới lọt lòng mẹ... thôi, Mai về.

Nhân cất tiếng chào lại. Nhìn bóng Mai khuất sau khung cửa sắt và hoà vào những bóng người lố nhố ngoài đường, anh nghĩ tới câu nói của chị Duyên tả bàn mình là của những người số lẻ và thấy lòng dâng lên một nỗi buồn khó tả ... Chẳng lẽ cuộc đời toàn những dở dang và tan vỡ? Cuộc đời như một trò đu bay mà cuộc sống vật chất làm ta mau đuối sức, dễ tut tay lộn nhào...

Chị Duyên như một nhà đạo diễn lành nghề giải thích:

''Như vậy là cô Mai chịu giúp rồi đó, mình có thể tính tới. Quan trọng là trong nghi thức ký giá thú ở nhà hành chánh quận phải làm sao cho tự nhiên để họ khỏi nghi ngờ. Ở đây những năm sau này, số người ngoại quốc từ những nước thứ ba sang rồi làm hôn thú với người có quốc tịch để được ở lại tăng vọt nên chính quyền bắt đầu kiểm soát chặt chẽ; thậm chí họ còn ra luật cho phép viên chức h tịch có quyền từ chối cử hành nghội thức ký hôn thú nếu thấy có điều khả nghội. Họ mà nghi ngờ rồi thì phiền toái lắm, cảnh sát điều tra theo dõi xem hai người có ở với nhau thật sự không. Có nhiều điểm phải sửa soạn cho kỹ. Trước hết là khách của hai gia đình, chị sẽ nhờ một số bạn bè tới dự cho đông đảo. Kế đến là cái vụ hôn. Để chị giải thích: ở đây sau màn đeo nhẫn và tuyên bố hai người làm vợ chồng chính thức trước pháp luật, ông chủ sự sẽ mời cô dâu chú rể hôn nhau. Thói thường ở bên này, ông chủ sự chưa dứt lời, chúng nó đã rịt lấy nhau hôn lấy hôn để; còn đám mình, tuy là giả nhưng em cũng phải hôn nhẹ má Mai một cái cho tự nhiên. Đóng kịch một chút cho được việc mình. Sau đó chị sẽ mang vài bộ quần aó cuả em qua để trong tủ áo quần cuả Mai rồi thỉnh thoảng em tới nhà cô ấy chơi. Phố Mai ở đông đúc, người ra kẻ vào chẳng ai để ý ai. Khi nào em có giấy cư trú chính thức là coi như xong. Trong lúc chờ đợi nên bắt đầu kiếm việc gì đó để dành tiền mà trả nợ. Làm để trả nợ là một khởi đầu tốt ở bên này đó! ''

Nhân đi làm. Cùng chỗ với chị Duyên và Mai. Lau chùi văn phòng sau giờ làm việc. Người giữ chỗ này bị tai nạn phaỉ nghỉ làm một thời gian dài, chị Duyên hỏi Nhân có chiụ làm thế trong vòng vài tháng không, Nhân gật đầu không do dự. Trước đây khái niệm của anh về tiền bạc khá mù mờ vì không thật sự lo lắng kinh tế gia đình. Nhân để nỗi lo ấy cho người khác: mẹ khi còn thanh niên và sau khi ly dị, vợ khi anh và Ngọc còn ở với nhau; công việc và bổn phận của anh là đi làm, lương cuối tháng đem về cho mẹ hay vợ; thiếu bao nhiêu Nhân không màng vì lúc nào cũng tin tưởng vào tài xoay sở cuả những người ấy. Được cái anh cũng dễ sống có sao ăn vậy có gì mặc nấy, không thắc mắc chẳng so đo.

Khi Ngọc bỏ đi anh mới thấy hụt hẫng, cái hụt hẫng của một người trèo thang bị mất một bậc ngang. Cơ hội đó làm Nhân thật sự nhìn vào cuộc sống kinh tế gia đình, hiểu được nỗi lo của mẹ và anh mới nhận thức được động cơ làm con người đi tới như người đứng bên này hầm xe lửa thấy đầu toa xe lửa từ từ hiện rõ trong sương sớm. Tiền. Tiền ăn, uống, mặc; tiền đóng học, mua sách vở đồ chơi cho cu Bi; tiền điện nước, thuê nhà ... và thấy mình có lỗi phần nào trong việc ra đi của Ngọc.

Qua đây khái niệm ấy càng rõ nét hơn. Đoàn tàu lửa hiện rõ nguyên hình và rú lên hồi còi hối thúc. Nhân chỉ có một mình để nhảy lên toa xe lửa vật chất ấy. Anh phải nhảy, vì anh, vì cu Bi.

Nhân làm dưới sự điều hành cuả Mai. Ngày đầu tiên tới nhận việc, Mai hỏi anh không thấy ngại phải làm một công việc tay chân. Nhân trả lời nếu còn ở VN có lẽ tôi từ chối mặc dù không chắc chắn lắm; nhưng ở đây phaỉ thực tế, quan trọng là sống còn và cho cu Bi có đủ điều kiện sống như những đưá trẻ khác. Phải bắt đầu ở đâu đó. Tôi rút được khá nhiều bài học sau lần đổ vỡ cuả mình. Tôi nghe nói cô Mai trước đây cũng bắt đầu như vậy mà. Bây giờ cô làm manager, vậy tôi cũng còn hội vọng lắm chứ! Mai chỉ cười và hướng dẫn Nhân những việc phải làm.

Công việc không khó. Trong tuần sau giờ công sở Nhân tới thu rác tất cả các văn phòng và bỏ vào kho chứa; sau đó lau chùi cầu thang, lối đi và nhà vệ sinh. Thứ bảy ghé nhà Mai lấy chìà khoá mở cửa sở làm và hút bụi từ sáng tới chiều; chủ nhật được nghỉ. Mấy ngày đầu sợ làm không kịp Nhân chạy đôn đáo rạc cẳng nhưng khi làm quen rồi anh tự tổ chức việc nào trước việc nào sau nên không phải chạy nữa mà công việc vẫn chạy đều. Sau đó là thói quen, anh làm như một cái máy mà không suy nghĩ gì, lại còn có dịp xem xét cách tổ chức chung của công ty và nhận thấy hệ thống an toàn phòng máy vi tính cần được nâng cao. Những người chủ bỏ không biết bao nhiêu tiền thiết kế những vi chương bảo vệ nội mạng như Bức Tường Lửa và hệ thống chống đột nhập mạng từ bên ngoài nhưng lại lơ là phần an toàn bên trong: với một chìà khoá chính, Nhân có thể vào phòng máy và làm tất cả những gì anh muốn!

*

Nhân tới nhà Mai lấy chià khoá mở cửa chỗ làm. Hôm nay thứ bảy. Chuyến xe điện tới nhà Mai vắng tanh. Trên xe ngoài bác tài, chỉ có Nhân và một đôi tình nhân trẻ dựa trên vai nhau ngủ vùi thật hồn nhiên, cái hồn nhiên cuả những kẻ sinh ra ở một đất nước dư thưà vật chất và quá đủ tự do. Không gian thinh lặng đôi khi bị quấy rầy bởi tiếng rù rì phát ra từ máy điện đàm đặt bên cạnh tài xế mà Nhân nghe tiếng được tiếng không.

Trời đã sang thu. Hàng cây trên đường đầy lá vàng. Sương mù giăng nhẹ trong không gian phủ lấy những mái nhà ngói đỏ lúc ẩn lúc hiện làm Nhân nhớ đến những cuốn phim ngoại quốc mà anh đã xem thuả thiếu thời cùng với niềm khao khát được đi du học như một vài người bạn mà Nhân quen biết.
Bây giờ Nhân ngồi đây, trên chuyến xe điện này, ngắm cảnh muà thu trong một tình huống hoàn toàn trái ngược. Nhân bật cười một mình.

Nhân nhấn chuông. Tiếng chuông ngân dài trong hành lang khu chung cư vắng lặng. Sáng thứ bảy vẫn còn ngủ vùi sau một tuần làm việc mệt nhọc, tất bật với những lo toan của cuộc sống hằng ngày.

Người ra mở cửa cho Nhân là mẹ của Mai. Bà lộ vẻ mừng rỡ khi thấy Nhân vì có người nói chuyện:

- Chào cậu Nhân, vào ngồi chờ một chút. Mai nó bị bịnh mấy hôm rày không đi làm được.

- Cháu có nghe chị Duyên nói. Cô Mai đỡ chưa bác?

- Mấy hôm rồi bác cạo gió, cho ăn cháo nên hôm nay đã đỡ; giờ lại thêm cái máy vi tính nó trục trặc sao đó, đang lo.

Ròi bà thở dài:

- Cái xứ gì đụng đâu cũng thấy máy!

Tới nhà Mai mấy lần, Nhân trở thành người bạn tâm sự cuả bà cụ quá cô đơn thiếu người trò truyện. Nhân thấy mình số lẻ, mà bà cụ còn lẻ loi hơn, đi qua đi lại trong căn hộ, lặng lẽ như một cái bóng. Niềm vui duy nhất là cuối tuần đi Chuà hàn huyên cùng những cụ bà đồng cảnh. ''Nhưng riết rồi cũng chán vì đi đâu cũng nghe than: nào con cháu không chiụ nghe lời như ở VN, nào cô đơn không ai chăm sóc, nào nhớ quê hương, nào mình mẩy đau nhức ... Bà Tám đô-la mới qua than thằng con rể mắt xanh mũi lỏ sáng nào cũng bắt uống một ly sữa, một ly nước cam và hai lát bánh mì trét mứt trái cây, ngán và tức muốn ói mà không dám cãi lại... Đã buồn nghe mấy bả than càng thêm rầu thúi ruột.''

Qua bà cụ, Nhân biết thêm về cuộc hôn nhân trước đây của Mai. Sau khi đưá con đầu lòng mất đi và biết Mai không thể có con được nữa, người chồng cũ rất buồn, thường đi sớm về trễ và ít ở nhà cuối tuần. Dần dà ông quen với một người đàn bà khác, có con với bà ta và ly dị với Mai. Nhưng trước đó cũng không quên chuyển hết số tiền hai người dành dụm qua trương mục riêng, số tiền hai người dự tính sẽ mua căn nhà nhỏ sau khi có con. ''Đó là lý do tại sao nó muốn có tiền mua nhà vì ở chung cư này đã chật chội lại bất an, mấy chú nghiện xì-ke ma túy cứ chờ người ta đi làm là cạy cửa lẻn vào khiêng đồ, thậm chí còn đánh đập cắt tai xẻo mũi người ta để đòi tiền nưã chứ!''

Bà ngừng lại vì Mai xuất hiện nơi ngưỡng cửa, nét mặt còn xanh xao.

Nhân ân cần:

- Cô Mai đỡ chưa? Tôi tới lấy chìà khoá cửa của hãng để hút bụi.

- Mấy hôm nay nghỉ ở nhà bây giờ thấy khoẻ nhiều. Nhưng Mai lại đang lo chuyện khác.

- Chuyện gì vậy cô Mai?

- Thứ hai này Mai phaỉ nộp bản tường trình cho ông chủ mà tới nay cũng chưa xong, cái máy computer cứ chạy một hồi là đứng lại, phaỉ tắt đi mở lại, mất hết những gì đang đánh.

- Đâu để tôi coi thử. Tôi cũng sửa máy thường xuyên cho chị Duyên, không chừng có thể giúp được cô.

Nhân vào phòng ngủ của Mai. Căn phòng sắp xếp ngăn nắp. Trên bàn ngủ là một khung hình nhỏ của người nữ sinh tóc dài thật trẻ. Nhân ngồi xuống chiếc ghế còn ấm hơi người. Anh bật máy lên và xem xét. Mai đứng sau lưng. Nhân có thể nghe tiếng thở của Mai sau gáy. Nhân đề nghị tháo vài phần mềm mà anh nghĩ không được cài đúng cách làm ảnh hưởng đến cái máy. Nhân quay lại hỏi Mai có chịu cho anh thử không. Mai nói không biết gì về máy, anh cứ làm xem sao. Nhân làm và cái máy có vẻ không đứng lại nữa. Mai lộ vẻ mừng rỡ, nàng đặt nhẹ tay lên vai Nhân và nói:

- May quá! Nhờ có anh giúp chứ không Mai chẳng biết tính sao. Thôi để Mai trả tiền công sửa máy cho anh.

Nhân cười:

- Có gì đâu cô Mai. Giúp qua giúp lại mà. Với lại cô trả vậy là hơi sớm, phải chờ coi cái máy có còn ngưng chạy hay không. Nhiều khi tôi vưà ra khỏi cửa là nó hư lại rồi.

Nhân đứng lên. Thân thể Mai thật gần. Chiếc giường trống trải chờ đợi và Mai tay cầm chìà khoá cũng đứng lặng yên chờ đợi, bộ ngực phập phồng theo hơi thở ấm áp. Cơ thể đàn ông của Nhân nhen nhúm một ước ao...

Nhân thở hắt ra, đưa tay sửa gọng kiếng, phá tan bầu yên lặng bằng câu ''Thôi để tôi đi làm cho kịp giờ '' rồi cầm chìà khóa Mai đưa, chào hai người đàn bà rồi bước ra.

*

Ngày quan trọng cuả đời Nhân. Theo quí anh cán bộ Cộng Sản mà bây giờ cụm từ ''Cộng Sản'' chỉ là cái xác không hồn thì đây là một "bước ngoặt" lịch sử đưa Nhân vào một con đường khác.

Tất cả hẹn nhau trước toà hành chánh nơi cử hành nghi thức ký hôn thú. Ngoài gia đình Nhân đông đủ số lẻ, chị Duyên còn kéo thêm được năm người bạn tới dự cho xôm tụ. Cu Bi hôm nay xúng xính trong bộ đồ mới: áo sơ-mi trắng, cổ thắt nơ bươm bướm đỏ thắm; ngoài mặc thêm chộiếc áo veste đuôi quạ mà các nhạc sư thường mặc khi trình tấu giao hưởng. Cu cậu chạy lăng xăng và bắt đầu chất vấn bà nội:

- Hôm nay ba Nhân lấy cô Mai hả bà?

- Phaỉ đó con.

- Vậy cô Mai sẽ thành má ghẻ cuả con có đúng không?

- Đúng. Nhưng mà má được rồi, cổ đâu có ghẻ lở gì đâu mà kêu má ghẻ!

- Vậy con kêu cô Mai bằng má nghen?

- Con ra hỏi cô Mai đi, cổ tới rồi kià!

Mai từ bãi đậu xe đi lại. Vẫn bộ tailleur xanh nhạt cuả lần tiệc cưới người bạn hôm nào nhưng trang điểm tươi thắm hơn. Còn Nhân là bộ veste đen mua ở tiệm bán quần áo may sẵn với chị Duyên. ''Nhớ giữ lại cái phiếu tính tiền để mai mang trả lấy tiền lại, coi như mượn mặc đỡ hai ba giờ!'', Nhân cười thầm nghĩ lại lời dặn dò cuả chị Duyên.

Chị Duyên đưa cho Mai bó hoa ''cầm cho đúng điệu cô dâu'' chị Duyên cười. ''Nếu vậy phải để anh Nhân đưa cho đúng điệu cô dâu chú rể!'', Mai cười đáp lại. Chị Duyên đưa bó hoa cho Nhân ''làm phận sự đi chú rể''. Nhân đưa tay sửa gọng kiếng, cầm bó hoa đưa cho Mai. Anh khuỳnh cánh tay cho Mai vịn, mọi người theo nhau vào phòng lễ tân. Chị Duyên còn không quên nhắc nhỏ ''Nhớ cái vụ hôn nhe, làm sao cho càng tự nhiên càng tốt!''

Đại sảnh thật tráng lệ. Nhân có cảm tưởng đang bước vào phòng đại lễ cuả một lâu đài cổ và thế giới của những vua chúa Tây Phương. Trên trần là hình những thiên thần nhỏ khăn quấn ngang thân đang bay lượn giữa những đám mây ngũ sắc gợi lại những bức tranh của Michael Ange. Giữa trần treo một chùm đèn thật lớn kết hợp bằng những thỏi pha-lê nhiều cạnh phản ánh đèn vàng ấm áp lên những bức tranh sơn dầu gắn chung quanh tường. Giữa sàn là lối đi trải thảm nhung đỏ hướng về bục gỗ nơi có chiếc bàn gõ nâu vây quanh bởi những chiếc ghế nhung cùng màu dành cho cô dâu chú rể và nhân chứng. Hai bên lối đi sắp sẵn nhiều hàng ghế dành cho quan khách. Sau lưng chiếc bàn gõ nâu là quốc kỳ và đại kỳ của thành phố. Nếu là một đám cưới bình thường thì long trọng biết bao. Rất tiếc... nhưng... tôi phải sống, Nhân nghĩ thầm.

Viên chức hộ tịch bước vào và bắt đầu nghội thức ký hôn thú. Ông nêu danh Nhân và Mai cùng hai người nhân chứng, chị Duyên làm chứng bên Mai; còn bên cạnh Nhân là anh bạn thương gia mà hôm trước làm đám cưới với cô vợ Trung Hoa son trẻ. Nhân bỗng thấy hồi hộp, không phaỉ vì đang lợi dụng pháp luật, đìều đó anh bất chấp. Đây là cái hồi hộp cuả một kẻ đứng trước một cuộc phiêu lưu mới, không biết may rủi ra sao. Nhân liếc qua Mai, thấy nét mặt thản nhiên của nàng mà thầm phục trong lòng.

Viên chức hộ tịch đọc bộ luật hôn nhân cho hai người nghe, chồng phaỉ có bổn phận với vợ con, vợ phải có bổn phận với chồng con rồi kêu tên Nhân hỏi có nhận Mai làm vợ không, Nhân trả lời ''có''; ông quay sang Mai hỏi có nhận Nhân làm chồng không, Mai gật đầu ''có''. Ông tuyên bố kể từ giờ hai người là vợ chồng trrước pháp luật. Trao cuốn sổ gia đình cho Nhân ông mỉm cười "bây giờ quí vị có thể trao nhau nụ hôn."

Lấy vẻ thật tự nhiên, đưa tay sửa gọng kiếng, Nhân cúi xuống định hôn nhẹ vào má Mai nhưng Mai đã quay qua để môi hai người chạm vào nhau và nàng vít cổ Nhân xuống thật chặt...
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #26  
Cũ 07-10-2008, 04:33 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
MỘT THOÁNG HẠNH PHÚC
Thùy Dương (vietbao)

Đoạn trước, tôi kể chuyện hôn nhân hạnh phúc không cần điều kiện. Điều đó không đúng hẳn vì thành kiến giai cấp, địa vị, nhất là đối với người Việt đã hằn sâu từ bao đời. Hôn nhân bất cân xứng sẽ bị người đời chọc "như đôi đủa lệch so sao cho bằng."

Thanh là một bác sĩ nội trú tại bệnh viện trên Los Angles, mà đa số bạn đồng nghiệp của chị là ngoại quốc, khó có sự thông cảm, nhất là lúc chị qua Mỹ tuổi đã trưởng thành nên khó hòa nhập vào cuộc sống của dân bản xứ. Thế là vào những ngày nghỉ, Thanh thường tìm đến một thư viện nhỏ vùng Alhambra, ngoại ô thành phố Los Angeles để học, để đọc sách, đôi lúc nhìn qua khung cửa kính như tìm về Sài gòn một thời xa xưa.

Tại đây, một lần bỗng có tiếng người đàn ông, ngồi bên hỏi chị bằng giọng miền Nam hiền hoà.

- Bộ người Việt Nam hả?

- Không Việt Nam sao đọc sách Việt.

Thanh sẵng giọng trả lời vì bị cắt đứt giòng tư tưởng, vừa nhìn qua người vừa hỏi chị. Đó là một người đàn ông da vàng, tầm thước, dễ nhìn. Người đàn ông vẫn tươi cười nhìn cái backpack của chị, hỏi tiếp:

- Còn đang đi học hả? Vẫn lối hỏi trống không, không xưng hô.

- Già như vầy còn học gì nữa?

- Làm nail hả?

Anh chàng nhìn sang những ngón tay sơn đỏ của Thanh.

- Biết làm nail thì đâu có sơn móng tay xấu quắc như vầy? Vẫn giọng cấm cẳn Thanh trả lời.

Anh chàng vờ đi như không biết, tiếp tục hỏi:

- Đi làm hãng hả? Hãng Mỹ hay hãng Việt?

- Hãng Mỹ. Thanh trả lời cụt ngủn.

Làm nhà thương Mỹ thì là hãng Mỹ chứ còn gì nữa, chị nghĩ trong đầu.

- Giỏi quá ha. Qua đây lâu chưa mà được làm hãng Mỹ? Tui làm chef cho nhà hàng Tàu gần đây, hôm nay nhà hàng đóng cửa.

Anh chàng vui vẻ trình bày về mình một tí.

- Vậy hả?

Thanh hơi bực mình vì anh chàng này dai quá mà chị đọc quyển tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đang tới hồi hấp dẫn, đoạn Thị Mịch bị Nghị Hách dụ khị. "Vô duyên", Thanh nghĩ trong đầu, có ai hỏi đâu mà khai chứ.

- Có biết lái xe không?

- Không biết lái xe làm sao đi làm? Thanh vẫn đọc sách.

- Tưởng không biết lái xe, chỉ cho. Bên Mỹ, đàn bà con gái không biết lái xe khổ lắm.

Anh chàng vẫn điềm nhiên nói chuyện với cô, phớt lờ thái độ bực mình của Thanh, anh tiếp:

- Nếu xe hư, gọi tui, tui sửa cho.

Tự dưng Thanh bỗng có cảm tình với anh ta, có lẽ chị nghĩ đến lúc nói mới qua Mỹ, lái xe cũ nên nhiều lần xe nằm hư dọc đường, chị lo cuống cuồng nhất là vào lúc trời sập tối.

- Ờ cảm ơn.

- Mà nè, có biết nấu ăn không vậy?

- Không.

Anh chàng mừng rỡ:

- Mình đã không biết nấu ăn, phải kiếm người biết nấu ăn, để họ nấu cho vợ cho con.

Thanh cười thầm, anh chàng này cũng tán dữ đấy chứ, anh chàng vừa cho biết mình là chef cách đây không lâu.

- Má tôi và các chị tôi nấu cho ăn rồi.

Anh ta vẫn không nản lòng, hỏi tiếp.

- Weekend ở nhà làm gì vậy?

Rồi anh chàng tiếp tục offer cho Thanh, nào rạp hát bên Mỹ mát rượi à, không giống như bên Việt Nam, chừng nào có phim hay anh sẽ báo cho chị biết. Chẳng cần chị có đồng ý hay không, anh ta nhỏ nhẹ hỏi:

- Mà số phone là số mấy vậy?

- Má tôi cấm không cho ai số phone.

- Về nói với má, con gái lớn rồi đừng cấm đoán nữa, phải cho tiếp xúc để còn lấy chồng chớ.

Rồi từ má chị, anh ta nhảy sang chuyện má của anh:

- Má tui nói về Việt Nam cưới vợ, nhưng tui không thích, kiếm người bên đây để còn tìm hiểu.

Thấy Thanh không nói gì, anh ta rút viết ghi ghi chép chép gì đó, rồi trao mảnh giấy cho chị:

- Không cho tui số phone, thì gọi cho tui nghen.

- Thôi tôi phải về rồi. Chắc tôi không gọi đâu.

Bỗng Thanh nhớ tới những người mà chị đã và đang date mà chị quen ở chỗ làm hay do bạn bè mai mối vì thương chị đã lớn tuổi mà còn cô độc. Những buổi hẹn hò trong những tiệm ăn sang trọng, những lối nói chuyện kiểu cách, lịch sự và lạnh lùng. Thanh nhớ đến những lọ nước hoa đắt tiền mà chị dửng dưng nhận mà chẳng bao giờ dùng tới, và chị phải lái xe vội vã đến những shopping mall để mua tặng lại họ những chiếc cà vạt đắt tiền cho tương xứng sau những ca trực thiếu ngủ trong lúc chị chỉ muốn về nhà, ngã đại trên thảm ngủ thẳng cẳng. Chị và họ gặp nhau chỉ vì những tính toán kỹ lưỡng, cả hai phía, nghĩa là cũng từ phía chị nữa.

"Giá mà mình là cô thợ làm móng tay hay chị assembler chắc mình hạnh phúc hơn," chị Thanh nghĩ thầm trong lúc rời thư viện.

Tiếng anh chef dịu dàng nói với theo "nhớ gọi tui nha, tui đợi đó......"
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #27  
Cũ 07-10-2008, 07:31 AM
back back is offline
Đã đi xa
 
Tham gia ngày: Sep 2008
Bài viết: 375
Cảm ơn vì bài viết: 2
Được cảm ơn 21 lần trong 17 bài viết
back is on a distinguished road
CHUYỆN TÌNH ... KHOAI LANG !!

Chuyện Tình Khoai Lang

Tình yêu là gì?

Ai cũng hiểu, ai cũng biết. Thế nhưng không có một định nghĩa nào được cho là đúng khi giải thích về tình yêu cả. Lý do là, mỗi người hiểu tình yêu theo một nghĩa khác nhau.

Tình yêu, ai cũng có một lần nghe qua, ai cũng đã có ít ra một lần yêu (thử hay thật cũng được), thế nhưng, khi nào thì được phép yêu? Khi nào thì nên... chấm dứt? Không ai dám trả lời cả! Người lính chiến quanh năm với bưng biền, tròn ba tuổi lính, chưa hề có bạn tâm tình, cũng không thể kết luận rằng anh ta không biết gì về tình yêu. Ngay cả ông lão đầu tóc còn vài cọng không đủ làm thuốc, răng cỏ theo nhau rụng xuống cầu hết trơn rồi, cũng không dám nói là mình có đủ kinh nghiệm về tình yêu. Tôi cũng như bạn vậy, cũng đã nghe nói về tình yêu, cũng đã làm thử một lần. Chỉ có một điều đặc biệt là tôi đã đuợc nghe kể lại một chuyện tình thời hậu chiến. Chuyện tình này có thật, rất là cảm động, đã được nhiều anh em biết tới. Theo đúng như những kết luận về chuyện tình thời cổ tích, hai vai chính tới nay vẫn còn sống, vẫn thương yêu nhau, gia đình thật là đầm ấm.

Chuyện tình yêu này thật là đẹp, thật là đáng ghi nhớ, hay hơn tất cả những chuyện tình yêu trên thế giới. Love Story của Mỹ cũng thua xa! Một câu chuyện tình yêu kéo dài cả ba năm trời, trong đó hai vai chính, một nam một nữ không hề quen biết nhau, không hề tiếp xúc với nhau, nhưng kết cục lại lấy được nhau thật là ngọt ngào. Câu chuyện tình yêu này đã được đặt tên là... Chuyện Tình Khoai Lang, theo lời kể của một chịến hữu Nhẩy Dù của tôi, như sau:

***

Ngày đó, vào khoảng năm 1977, tôi đang bị bọn VC bắt đi tù vì tội có ông Tổng Thống đầu hàng. Cả bọn tôi, đa số là các Sĩ Quan trẻ (cấp bậc từ Thiếu Úy tới Đại Úy) được tập trung ở trại Suối Máu, sau đổi qua Trảng Bom (Biên Hòa). Bọn VC độc ác bắt chúng tôi làm việc cật lực nhưng không cho ăn uống tử tế, thuốc men hoàn toàn không có . Ai sống được thì sống, ai về chầu ông bà ông vải thì cứ việc đi. Phương cách giết người này thật là độc ác, giết nguời mà không cần gươm súng. Mỗi ngày đi lao động bên ngoài, anh em cố gắng kiếm được thêm cái gì thì ráng mà kiếm để sống cho qua ngày. Có người lượm được cái trứng chim, bắt được con thằn lằn, rắn mối...cũng đã cho rằng mình có số sung sướng lắm rồi. Dân làng thì ở ngoài xa, thỉnh thoảng mới gặp một vài người. Bọn VC quái ác không cho dân tiếp xúc với anh em chúng tôi và cũng cấm tuyệt anh em chúng tôi không được lân la tới khu dân chúng. Đói, đói lắm, đói thê thảm, đói lả người ra! Nhưng anh em còn trẻ, sức chịu đựng cao, tinh thần càng cao hơn, nên ráng sống đợi một ngày mai tươi sáng.

Bọn VC khoe với chúng tôi: " Đảng ta đã . . . Đại Thắng Lợi"

Thì chúng tôi lại vui mừng nhìn nhau, nói trong ý nghĩ: "Anh em ta . . . Đợi Thắng Lại!"


Ruộng mía, khoai lang, khoai mì của đồng bào ở chung quanh rất nhiều, nhưng chúng tôi không đụng tới, vì đó là của dân, mồ hôi nước mắt của họ. Họ cũng đói như chúng tôi vậy, đâu thể nào lấy của dân được. Ngày xưa, chúng tôi bảo vệ họ, ngày nay không làm gì được nữa nhưng không vì đói mà mất tư cách. Đồng bào biết chúng tôi đang bị đầy đọa, họ cũng thương cảm lắm, họ cũng đã tìm đủ mọi cách mà giúp đỡ chúng tôi. Bọn VC cũng biết như vậy, cho nên mỗi lần phải đưa chúng tôi di chuyển ngang khu dân cư, bọn chúng đi kè kè sát bên, không cho ai tiếp xúc với ai. Muốn mua thêm ít đường, ít muối cũng khó lòng mà làm được!

Thế nhưng trời cao còn có mắt mà, không sao! Miễn được thấy dân là lòng người lính thấy ấm lại rồi! Buổi sáng hôm đó, chúng tôi đang trên đường đi lao động. Từ xa, chúng tôi đã thấy khu dân cư ở đằng trước, và thấy bóng dáng những trẻ em, những cô gái đang tung lúa, thẩy khoai lang ra trước nhà để phơi. Khi tới gần khoảng chừng chục thước, chúng tôi thấy một bóng dáng phụ nữ cầm thúng thẩy khoai lang ra ngoài đường đi, chỗ chúng tôi đang bước thấp bước cao. Chúng tôi tuyệt đối không đụng tới tài sản của dân, dù là mấy củ khoai lang nhỏ bé, nên vẫn cứ thế mà bước đều. Mấy hôm sau, khi đi ngang qua xóm nhà này, chúng tôi lại thấy bóng dáng người phụ nữ này. Cô cũng dáng điệu như cũ, cầm thúng khoai lang thẩy ra đường đi. Lần này cô nói bâng quơ:

- Má à, mấy đám khoai lang hư này, mình đâu có bán cho ai được! Thôi, dục bỏ, nha Má!

Cô vừa nói vừa thẩy khoai lang ra chỗ chúng tôi.

Cô đứng ở xa nói tới, chúng tôi cũng không đi gần nên chỉ nghe cô nói như vậy thôi. Nói là cô gái thì cũng là nói vậy thôi, chứ không thấy rõ hình dáng, nói chi tới mặt mày.

Mấy hôm sau nữa, chúng tôi lại có dịp đi lao động ngang qua khu dân cư này. Chúng tôi lại thấy cô gái hôm trước. Cô vẫn đứng xa xa, nhưng lần này cô cố tình cầm khoai lang thẩy vào chúng tôi rồi bỏ đi, dáng vẻ rất là bình thường.

Tối về khu trại, chúng tôi bàn tán về cô gái, về những củ khoai lang mà cô thẩy ra ngoài. Chúng tôi cùng đồng ý là thái độ của cô rất lạ: Không có ai phơi khoai lang ở chỗ đường đi đó, mà cũng không có ai dục khoai lang trên đường đi như vậy cả.

Một người bạn - tên Phúc - đã nói với tôi:

- Tao nghĩ rằng cô gái này muốn cho mình những củ khoai lang đó. Chứ nếu cô muốn dục đi, thì thiếu gì chỗ dục. Hơn nữa, khoai lang dù là hư, không cho người ăn được thì để cho heo ăn, dễ gì mà dục bỏ!

Lần sau nữa, khi đi ngang khu nhà dân đó, chúng tôi lại thấy cô. Lần này chúng tôi không thấy cô thẩy khoai lang ra nữa, mà đứng yên ở phía xa xa chỉ trỏ chỗ này, chỗ kia, ý như muốn chỉ cho chúng tôi những củ khoai lang mà cô đã thẩy ra trước đó.

Tối về, chúng tôi lại có dịp bàn tán. Phúc nói với tôi:

- Tao có nhìn thấy mấy củ khoai lang ngay trên đường mình đi. Tao thấy khoai lang kỳ này cũ rồi, không tươi như bữa trước nữa. Tao nghĩ rằng, cô thẩy ra cho tụi mình lượm, nhưng không ai lấy, nên cô lại thâu lại để dành, bữa nay thẩy ra nữa. Chắc chắn là cô cho tụi mình đó, tụi mày đồng ý không?

Tất cả cùng có ý nghĩ đó! Chắc là cô còn có lòng thương những người lính sa cơ đói khổ, mà tặng những củ khoai lang ăn lót lòng. Củ khoai lang nhỏ nhoi không đáng là bao, nhưng tấm lòng của cô thật đáng quý! Chẳng có ai ở không mà chờ anh em chúng tôi đi gần tới mới thẩy khoai lang ra. Cũng chẳng có ai có nhiều khoai lang để mà thẩy chơi như vậy. Chắc chắn là khi chúng tôi đi khỏi, cô lại thâu lại những củ khoai đó mà để dành thẩy lại cho chúng tôi vào ngày hôm sau. Anh em chúng tôi cùng đồng ý là kỳ tới, nếu có đi ngang khu nhà dân, nếu cô còn có lòng hảo tâm mà thẩy khoai lang ra, chúng tôi sẽ chia nhau lượm.

Dịp may đã tới, chúng tôi lại có dịp đi ngang khu nhà dân cũ, và lại thấy bóng dáng cô từ xa. Cô lại thẩy khoai lang ra rồi bỏ đi. Chúng tôi đã bàn với nhau trước rồi, nên chia ra làm nhiều toán nhỏ: Toán đi trước bao chung quanh đám quản giáo để chúng khỏi nhìn thấy phía sau, toán thì đi chậm chậm lượm thật lẹ những củ khoai lang bỏ vào giỏ xách thật nhanh. Lính mà! Chúng tôi thanh toán chiến trường khoai lang lẹ lắm, không thua gì những lúc thanh toán bọn quỷ đỏ trên chiến trường trước đây.

Buổi trưa hôm đó, chúng tôi lại chia ra nhiều toán để dắt bọn quản giáo đi ra xa, trên đầu gió, để đám còn lại lo nướng khoai . Đói lòng ăn được củ khoai lang. Ôi, sung sướng nào hơn!

Đám này ăn xong thì lại ra canh bọn VC để đám kia trở lại ăn những củ khoai lang tình nghĩa đó. Lần sau đi ngang khu nhà dân, đến phiên Phúc lo lượm những củ khoai lang của cô gái hảo tâm. Buổi trưa, Phúc nói nhỏ với tôi:

- Đúng như tao dự đoán, mày ạ! Kỳ này cô ta cho mình toàn là khoai mới, bự và ngon hơn khoai bữa trước nhiều lắm! Chắc cô đã núp đâu đó, thấy mình đã lượm hết khoai kỳ trước nên mới đưa khoai lang mới ra đó!

Nhờ những củ khoai lang đó mà anh em chúng tôi có thêm sức khỏe. Nhờ ở cảm tình mà người dân đã dành cho chúng tôi qua củ khoai lang mà chúng tôi thêm được sức mạnh để chịu đựng cực khổ, chờ đợi ngày mai trời lại sáng. Chúng tôi ăn những củ khoai lang đó của cô gái tốt bụng, nhưng chỉ nhìn thấy dáng của cô từ phía xa xa mà thôi, chứ chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cô cả. Cũng chỉ duy nhất có một lần được nghe giọng nói của cô mà thôi.

Thời gian cứ thế trôi qua, chúng tôi vẫn sống, vẫn hiên ngang với đời.

Rồi ngày mai đã tới, ngày tôi và Phúc được bọn VC trả về nguyên quán. Chúng nói là chúng tôi đã... học tập tốt. Nhưng đối với chúng tôi, với riêng tôi và Phúc, chúng tôi vẫn vậy. Muôn đời chúng tôi vẫn là người lính VNCH và càng căm thù bọn Việt Cộng hơn bao giờ hết. Tôi được gia đình lo liệu sẵn, một thời gian ngắn sau khi về lại nhà, tôi đã may mắn vượt biên trót lọt và qua định cư ở Melbourne xứ Úc Đại Lợi.

Tôi cũng có nghe bạn bè nói, Phúc cũng đã vượt biên và hiện ở Sydney, cùng xứ Úc với tôi.

Một ngày đẹp trời vào năm 1990, vợ chồng tôi có dịp đi Sydney và đã ghé thăm Phúc.

Bạn bè ngày xưa gập nhau mừng mừng tủi tủi, nói chuyện huyên thuyên - Chuyện xưa còn đó, nhưng bạn bè nay đâu? Thằng nào còn sống? Thằng nào chết trong trại tù? Thằng nào vượt trại? Thằng nào vượt biên? Đi đâu?

Cuối cùng mới tới chuyện đời sống hiện tại.

Mày lấy vợ hồi nào? Lấy từ hồi ở VN hay qua đây mới lấy? Bao nhiêu đứa con rồi? Đứa lớn bao nhiêu? Đứa nhỏ mấy tuổi. Chúng tôi nói như chưa bao giờ được nói.

Phúc kể, đã lấy vợ từ hồi ở VN, hai vợ chồng cùng vượt biên qua đây. Vợ của Phúc chỉ cười cười khi nghe chồng giới thiệu là tôi ở cùng trại tù với anh từ năm 1977.

Một lúc sau, vợ Phúc bưng ra một đĩa mà Phúc nói rằng rất đặc biệt: Khoai lang Dương Ngọc!

- Ăn đi mày, ăn để nhớ lại cái thời bị tù đầy, bị bọn VC vo tròn bóp méo!

Tôi sáng mắt lên, vồ lấy củ khoai lang, ăn không kịp bóc. Tại sao lại phải bóc vỏ? Vỏ khoai cũng là khoai vậy! Tại sao lại vứt bỏ đi?

Bao nhiêu kỷ niệm xưa quay trở lại. Tôi cũng đã kể chuyện khoai lang cho vợ tôi nghe nên tất cả đều cùng nhau góp lại chuyện xưa. Tôi vừa ăn vừa ngậm ngùi:

- Không biết cô gái đã cho mình những củ khoai lang đó, bây giờ ra sao? Có ai biết cô đó là ai không? Cô ta còn ở đó hay đã trôi nổi đi phương trời biền biệt nào rồi?

Phúc trầm ngâm một lúc rồi trả lời tôi:

- Cô gái cứu sống mình bằng những củ khoai lang... đang ở trước mặt mày đó! Tao cưới cổ rồi!

Thật là không ngờ! Vợ chồng tôi ngạc nhiên tới há hốc miệng, rớt cả củ khoai lang ra ngoài:

- Mày... mày nói cái gì? Cô này đây... vợ mày đây... là... là cô gái cho tụi mình khoai lang ở Trảng Bom? Mày... nói chơi hay... nói dỡn vậy? Thiệt không? Làm sao mà mày kiếm ra cổ ? Mà... phải thiệt là cổ không? Làm sao mày biết là cổ mà dám nói là cổ ? Dám lấy cổ?

Vợ Phúc (Dung) mỉm cười giải thích cho chúng tôi:

- Em đâu có gueng, đâu có biết ảnh là ai đâu! Tự dưng ảnh tới kiếm em rồi... hỏi cứ (cưới) em đó chớ!

Phúc giải thích rõ ràng hơn:

- Khi còn ở trong trại tù, mình đã nói chuyện với nhau thật nhiều về cô gái đó, tao thầm cám ơn cô đã còn nghĩ đến những người lính VNCH đang mắc nạn. Tao đã nghĩ trong đầu rằng, nếu có dịp trở về, thế nào cũng đi tìm cô gái đó mà cảm ơn. Nếu cô ta còn độc thân, tao sẽ cưới cô ta làm vợ. Mặc dù chỉ với một hành động nhỏ nhoi tặng những củ khoai lang cho chúng ta, nhưng cô đã chứng minh được rằng, cô là người chống lại bọn VC, cô là người đã còn nhớ đến người lính VNCH xưa. "Miếng khi đói bằng gói khi no" mà! Mình đang sa cơ mà còn có người dám nghĩ tới mình, thì làm sao mà không cảm động cho được? Đến khi được thả về, tao trở ra Phan Thiết ở với cha mẹ anh em một tuần, thì nói với ba má là tao kiếm đường làm ăn. Tao quay trở lại Biên Hòa, đi vào khu Trảng Bom, nói với Tổ Trưởng vùng đó là tao ở Biên Hòa, muốn về làm rẫy, mua đất trồng khoai lang. Ông này dẫn tao đi giới thiệu với những gia đình đang trồng khoai lang, có dư đất muốn bán. Nhà nào tao cũng vào làm quen để hỏi mua đất, hỏi kỹ thuật trồng khoai, nhưng mục đích chính là kiếm cho ra cô gái đó. Tao cũng như mày, như những anh em trong trại, đâu có ai biết mặt mũi cô ra làm sao? Ngay cả dáng người cũng không nhìn được, nên khó kiếm hết sức. Nhưng tao còn nhớ được giọng nói của cô ta khi nói: "Má à, khoai lang của mình hư hết rồi, không bán được đâu, dục đi nha Má!" T ao nhớ có nhiêu đó thôi. Rồi duyên số cũng giúp cho tao kiếm ra bả. Buổi chiều hôm đó, khi tao đã hết hy vọng kiểm cổ rồi, đang trên đường đi tới nhà Tổ Trưởng chào từ giã. Chợt tao đi ngang qua một căn nhà ở cuối xóm, thấy một cô gái đang gom khoai lang bỏ vô thúng. Tao ngừng lại hỏi bâng quơ:

- Cô lựa khoai lang đem bán hả?

Cô này không quay lại, vừa tiếp tục lựa khoai, vừa trả lời:

- Tui lựa khoai lang dư đặng mai đem thẩy cho mấy người lính "học tập cải tạo".

Tao thấy coi bộ trúng mối rồi, bèn hỏi tới:

- Khoai lang trồng cực khổ mới có. Bộ cô có bà con đang học tập trong đó hay sao mà lại cho họ khoai lang?

- Tui đâu có gueng ai ở trỏng đâu! Bị tui thấy họ tội nghiệp thì tui giúp đở chúc ít dzậy mà! Hồi xưa, mấy người này đi lính để giữ cho làng xóm được yên, khỏi bị bọn VC phá đám giết hại người ta. Nay những người này bị bắt ở tù, mình phải nhớ ơn họ, phải giúp họ chớ! Hổng giúp được nhiều thì có mấy củ khoai lang cũng giúp họ chút đỉnh dzậy mà!

Mới nghe bả nói là tao nhớ lại liền. Đúng y là giọng nói "Má à, đám khoai lang này hư rồi . . ." mà tao nhớ không bao giờ quên. Tao lại còn kỹ càng hỏi cho ra lẽ tại sao bả lại giúp mấy đám tù cải tạo như mình? Nghe bả trả lời ngon lành như vậy là tao chịu quá đi, nhất định giá nào cũng phải làm quen, nếu được, sẽ cưới bả làm vợ. Lính mà! Dễ lắm! Giản dị lắm: "Hễ ai thương lính là lính thương lại liền".

Tao lại đang trong tình trạng độc thân... "Tròn năm năm lính, chưa hề có bạn tâm tình". Tới luôn! Tao đi tới đi lui nhiều lần làm quen với bả, với gia đình bả, nói là xin học làm rẫy. Khi biết rõ gia đình bả, và biết bả còn đang độc thân, chưa có đám nào, tao mới trở về Phan Thiết kể lại chuyện của bả cho ông bà già tao nghe và nói ý định muốn cưới cô gái quê, nhưng có lòng thương lính đó. Ba má tao đồng ý tao muốn lấy ai thì lấy, miễn là hai vợ chồng hạp với nhau là được rồi. Nhưng mà cô đó có lấy tao hay không thì lại là chuyện khác nữa. Tao trở lại nhà Dung phụ làm rẫy tiếp. Trong một bữa nghỉ trưa ở ngoài ruộng, chỉ có một mình tao với bả, tao mới nói rõ tao là ai? Đã cảm cái tấm lòng của bả và muốn được cưới bả làm vợ. Bả rất ngạc nhiên mà nói với tao, y như bả vừa mới nói với mày vậy: - Tui đâu có gueng biếc gì anh đâu? Tui cho mấy anh khoai lang là cho nguyên đám đó chớ đâu phải cho một mình anh! Bị tui nhớ hồi xưa mấy anh đã đi lính giữ làng xóm tụi tui, chứ tui đâu có biết anh ở trỏng đâu? Mà anh . . . cứ (cưới) tui làm chi?

Làm chi thì tao không biết làm chi, nhưng tao nói tao cảm tấm lòng của bả mà cưới bả, vậy thôi. Tao nói:

- Ít ra thì anh với em cũng còn giống nhau ở một điểm là "THƯƠNG LÍNH".

Nói ba điều bẩy chuyện một hồi, bả cũng không biết nói sao nữa, kêu tao muốn gì thì về nói chuyện với ba má cổ, chứ cổ... hổng biết. Vậy là chịu rồi! Tao mừng quá, cả hai đưa nhau về gập ông già bà già của bả, tao lại kể rõ lai lịch của tao ra và xin đưa cha mẹ tới xin cưới Dung. Hai ông bà ngạc nhiên hết sức, cuối cùng nói là:

- Nếu vậy đúng là duyên số rồi. Con Dung nhà tui nó đâu có gueng biếc gì ông đâu. Nó xin tui ít phai lang, nói là để cho mấy ông bị tù cải tạo, tội nghiệp mấy ổng quá. Ai dè có ông ở trỏng, ông thương nó, ông được dzìa rồi thì ráng lội bộ đi cùng khắp chốn kiếm cho ra nó đặng xin 'cứ' nó! Đó là do Ông Tơ Bà Nguyệt cột đó, chứ hổng có ai bầy ra được đâu!

Tụi tao định ngày, đưa cha mẹ tao tới làm đám hỏi, xong rồi mới mời ổng bả và Dung về nhà tao chơi. Tới Phan Thiết, thấy nhà cửa của ba má tao thì ổng bả và Dung hoảng hồn, vì nhà tao hồi đó cha mẹ cũng còn nhà cửa, cơ sở làm ăn khá lắm! Dung đã nghéo tao ra sân mà nói:

- Nhà anh giào như zậy, mà anh cứ tui là gái guê làm chi? Thôi, thả tui zìa Trảng Bom tui làm rẫy sướng hơn!

Tao phải nói khó với bả:

- Mấy thứ đó là của cha mẹ anh, chứ anh... "Trên Răng Dưới . . . Dế ", đâu có cái gì nữa đâu! Có cái mạng cùi cũng nhờ em cho mấy củ khoai lang mới còn sống tới ngày nay. Mà em đừng có lo, mình còn đủ chân đủ tay, mình tự làm mà nuôi thân, chịu không?"

- Anh nói dzậy thì tui chịu!

Chịu hay không chịu thì cũng trễ rồi! Lính đã nói là Lính làm:

- Em có ý kiến nhiêu đó là đủ rồi, mọi thứ còn lại để anh lo, đừng có lộn xộn gì hết nữa!

Rồi tụi tao làm đám cưới. Cưới xong, tao lo đường vượt biên. Ông bà già vợ thẩy một mớ khoai lang lên tàu, vậy là tụi tao dông. May mắn cho tụi tao, trời yên bể lặng. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, tàu tụi tao cặp được tới Bidong. Tao chọn đi Úc cho nó lẹ và an toàn. Khoảng hai tháng sau tụi tao tới Sydney, gởi điện tín cấp tốc về cho ông bà già tao hay. Hai ổng bả mừng quá, lập tức mướn xe chạy tới Trảng Bom cho ba má Dung hay. Ba Má Dung cũng mừng quá, xá trời xá đất cám ơn lia chia. Ba của Dung cười lớn:

- Dzậy là thằng rể tui khỏi sợ bị Diệc cộng bắt cải tạo nữa rồi ha!

Má của Dung hỏi thêm:

- Ở bển có đất cho tụi nó trồng khoai lang hông dzậy, anh chị sui?

Tụi tao ở bên đây thì cũng giống như tụi bay vậy, ra sức làm mà lo cho gia đình, con cái, lo cho cha mẹ bên Việt Nam. Tụi tao có hai con rồi. Bây giờ bả hết dám hỏi:

- Anh " cứ " tui làm chi, nữa rồi.

Tụi tao lo làm nuôi con ná thở, đâu còn thì giờ mà hỏi nữa! Hỏi nữa tao để ........ đẻ nữa!
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #28  
Cũ 17-11-2008, 05:58 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Tình Trưng Vương
Lan Đàm

Thuở đó anh qua vườn Bách Thảo
Theo dáng em hiền nhẹ bước chân
Em nghiêng nón, hồn anh giông bão
Cổng then cài, còn đứng phân vân

Trời Sài Gòn nắng tươi màu má
Giờ tan trường đàn bướm nhởn nhơ
Anh đợi em người-quen-mà-lạ
Chót thầm yêu hay chỉ để chờ?

Anh chưa nói hay không dám nói
Đời vội chia hai ngả thật buồn
Anh phiêu bạt, cách ngăn diệu vợi
Áo trắng nào lồng lộng Trường Sơn

Đôi ba lần về thăm chốn cũ
Nguyễn Bình Khiêm sầu vắng bóng em
Hoa sao rụng quay tròn tư lự
Phố ngậm ngùi, trưa bặt nhạc chim

Khi nước mất anh thân tù tội
Mười lăm năm vẫn nhớ em hoài
Ngày trở lại, lối quen bối rối
Nhạt dấu giầy, lạnh ngắt Thiên Thai

Anh nhìn cây, cây gầy ngơ ngác
Trong lá rơi, đâu tiếng em cười?
Anh nghe gió, điệu hờn u uất
Thiếu bầy tiên sao gió lả lơi!

Từ lưu lạc tháng ngày lận đận
Đêm cô liêu kỷ niệm võ vàng
Em thoáng hiện ngạt ngào hương phấn
Khuya mông lung, hạnh phúc mênh mang

Có bao giờ nghĩ mình hột ngộ
Rất tình cờ, đất khách thấy nhau
Em ngồi đó, áo xanh thiếu phụ
Xa nhưng gần như mãi xưa sau!

Ơi Trưng Vương tình nhân muôn thuở
Trăm nghìn năm anh kẻ bên lề
Tâm đã động cuối chiều gặp gỡ
Em đi rồi, anh chợt tái tê
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #29  
Cũ 25-12-2008, 03:17 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
35 Năm Một Chuyện Tình
Nguyễn Duy An (vietbao)

Tôi uể oải trở về văn phòng lúc gần 1 giờ chiều, sau một cuộc họp kéo dài lâu hơn dự tính. Vừa đặt máy "laptop" lên bàn, chị thư ký đã theo vào:

- Duy ăn trưa chưa? Sao hôm nay họp lâu vậy?

- Chưa, mấy người kia rủ đi ăn nhưng mệt quá! Vả lại sáng nay bà xã đã chuẩn bị...

Tôi chưa nói hết câu, Christine đã chặn ngang:

- "Lão James" ghé qua lúc 11 giờ rưỡi, ngồi chờ cả tiếng đồng hồ để mời "xếp" đi ăn trưa, nhưng "lão già" ấy cút rồi. Duy ăn đi rồi tôi kể cho nghe chuyện lạ.

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe Christine gọi James là "lão già" vì từ mấy năm nay chị ấy vẫn "o bế" James rất kỹ mỗi khi ông ấy có việc về văn phòng trung ương của National Geographic ở Hoa Thịnh Đốn. Đã có tiếng đồn trong sở là Christine "mê" James, nhưng ông ấy vẫn lững lờ theo kiểu "tình vờ".

Với tôi, Christine và James đều là những nhân viên rất tốt và lớn hơn tôi cả chục tuổi. Christine là thư ký riêng của tôi từ hơn 9 năm nay, và lúc nào cũng xem tôi như "một đứa em trai dại khờ" bất kể là trong sở hay ngoài đường. James là trưởng phòng kỹ thuật của National Geographic ở Evanston, Illinois nhưng lúc nào cũng "thưa gởi" phân minh trong công việc, và thân tình như anh em bạn bè ngoài giờ làm việc.

*

Ngày mới về làm giám đốc phụ trách khoa học và kỹ thuật cho National Geographic, khi tìm thuê thư ký, tôi đặt điều kiện với văn phòng phụ trách nhân viên (Human Resources) rằng tôi cần một người có bằng về văn chương và "quen biết" công việc của National Geographic để giúp tôi soạn thảo và sửa chữa văn bản vì tôi là người ngoại quốc. Lúc bấy giờ Christine đang làm bên thư viện của tòa báo, đã từng giúp biên soạn những bài viết về Thuyền Nhân Việt Nam vào đầu thập niên 1980, gọi điện thoại xin gặp tôi chứ không nộp đơn theo đúng thủ tục.

Mấy ngày sau, đúng hẹn, vừa vào văn phòng, chị đã mở lời ngay: "Có lẽ Duy đã tìm hiểu về tôi qua văn phòng nhân viên trước rồi, phải không? Tôi đi thẳng vào vấn đề nhé: Tôi đã làm ở đây hơn 20 năm rồi, chồng tôi mới mất, hai con đã lớn, tôi có thể về hưu sớm nhưng thấy Duy xuất thân là một thuyền nhân tỵ nạn, và tôi tin chắc chắn mình dư khả năng và điều kiện làm thư ký riêng cho Duy nên tôi muốn giúp Duy thành công ở đây. Được không?" Lẽ ra tôi là người phỏng vấn Christine, nhưng ngược lại, chị ấy đã "phỏng vấn" tôi hơn một tiếng đồng hồ rồi kết luận: "Tôi sẽ nộp đơn đúng theo thủ tục, hy vọng Duy không từ chối chứ?" Và mấy tuần sau, Christine đã xin chuyển về làm thư ký riêng cho tôi.

Mấy tháng sau, tôi sắp xếp đi thăm một số văn phòng của National Geographic ở nhiều tiểu bang khác nhau tại Hoa Kỳ. Lúc đến phi trường Chicago, ở quầy nhận hành lý, tôi đã sững sờ khi trông thấy một người Mỹ tuổi trung niên tươi cười, hớn hở, một tay vẫy chào, một tay cầm tấm bảng lớn viết tên tôi rất chuẩn: Chữ Nguyễn có dấu mũ và dấu ngã đàng hoàng!

Chiều hôm đó, trước khi rời văn phòng, James mở lời:

- Tôi sẽ đưa "xếp" tới khách sạn, sau đó về nhà dùng cơm tối với cha mẹ tôi vì ông bà cụ rất mong muốn được gặp "ông xếp Việt Nam" của tôi... Chúng ta có thể làm bạn ngoài giờ làm việc được không "xếp"?

- Ông cứ gọi tôi là Duy được rồi. Chúng ta là bạn bè mà.

- Phải, chúng ta là bạn sau khi ra khỏi văn phòng! Còn tại đây, ông vẫn là "xếp lớn" đến từ trung ương. Xin mời "xếp", ta đi.

- Ai chỉ cho ông viết họ của tôi có dấu vậy?

James vẫn nằng nặc:

- Bí mật mà "xếp"! Lúc về nhà gặp ông bà thân sinh, "xếp" sẽ biết!

- Hay chúng mình ăn tối ở khách sạn trước...

- Không được đâu "xếp" ơi. Ông bà cụ đã chuẩn bị hết rồi, "xếp" không ăn thì họ không để tôi yên đâu!

Tôi không còn cách nào từ chối nên đành theo James về nhà ăn tối với cha mẹ ông ta. Suốt bữa ăn, ông bà đã hỏi tôi rất nhiều về Việt Nam, về trại tỵ nạn, về sự thành công của người Việt trên đất Mỹ... Sau cùng, ông bà và James dẫn tôi lên lầu. James nghẹn ngào:

- Đây là căn phòng của người em song sinh của tôi. Nó đã hy sinh bên Việt Nam vào mùa thu năm 1972. Cha mẹ tôi vẫn giữ nguyên như ngày nào.

Tôi sững sờ khi nhìn thấy tấm hình của "James" vào lúc chừng 20 tuổi trong bộ quân phục Thuỷ Quân Lục Chiến đứng bên cạnh một cô gái người Việt mặc áo dài, tay cầm nón lá, chụp bên hàng dừa cạnh một con kênh nhỏ, có lẽ ở Miền Tây Việt Nam. Tấm hình được đóng khung lớn, trịnh trọng đặt trên một chiếc bàn nhỏ như kiểu bàn thờ tổ tiên tại phòng khách của nhiều gia đình bên Việt Nam. Trên bàn có một bình hoa chưng mấy bông hồng màu trắng rất dễ thương. Tôi thẫn thờ, bùi ngùi xuc động không nói nên lời. James lên tiếng:

- Đây là tấm hình cuối cùng của em tôi. Em tôi rất thích hoa hồng trắng nên lúc nào mẹ tôi cũng tìm mua về chưng trên bàn thờ của "vợ chồng" nó. Em tôi tên John, giống tên Mỹ của ông đó, nhưng ở nhà vẫn gọi nó là Jack. Bên cạnh là vị hôn thê người Việt của em tôi, "cô ấy" cùng họ Nguyễn với ông, tên là Nguyễn Thị Minh-Thu. Đó là lý do tại sao tôi viết đúng tên họ của ông theo cách đánh dấu của người Việt. Hồi đó, đáng lẽ tôi phải lên đường sang Việt Nam nhưng Jack đã tình nguyện đi thay, và em tôi chẳng bao giờ trở về nữa! Nó đã gặp và yêu người em gái của viên sĩ quan Việt Nam cùng làm việc chung ở một tỉnh nhỏ nào đó trên quê hương ông. Tình yêu của họ gặp nhiều ngang trái vì gia đình và họ hàng cô ta phản đối! Em tôi đã kiên trì theo đuổi, học hỏi ngôn ngữ và phong tục tập quán người Việt suốt 3 năm trời, và cũng nhờ ông anh rể tương lai giúp đỡ thuyết phục cha mẹ và anh em bà con, tình yêu của họ mới được mọi người chấp nhận. Em tôi đã mãn hạn vào mùa hè năm đó nhưng tình nguyện ở lại làm việc trong khi tiến hành thủ tục giấy tờ và chuẩn bị làm lễ đính hôn để cùng Minh-Thu hồi hương... Nhưng rồi cả Jack và ông anh rể đều hy sinh trong một cuộc tập kích vào mùa thu năm 1972. Gia đình tôi cũng không biết số phận Minh-Thu ra sao từ ngày ấy!

James và ông bà thân sinh còn nói với tôi rất nhiều về Jack và Minh-Thu, về những tấm hình và những lá thư từ vùng lửa khói, về cái chết của Jack, và nhất là những cố gắng của gia đình để tìm kiếm "người con dâu chưa về nhà chồng" mà lúc nào họ cũng nhớ thương. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được ý nghĩa đích thực của câu nói "tình yêu không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc..."

Càng ngày tôi càng quý mến James nhiều hơn khi biết được mỗi khi có dịp ghé về vùng Hoa Thịnh Đốn, ông ấy đều viếng thăm đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial), và lần nào ông cũng đặt một bông hồng mầu trắng dưới bảng khắc tên em mình. Thêm vào đó, James cũng đã từng tâm sự với tôi về việc dọn về ở chung để phụng dưỡng cha mẹ sau khi họ về hưu, cả chuyện gia đình đổ vỡ và việc phụ cấp cho đứa con cho tới lúc nó đủ 18 tuổi nữa. Đó cũng là lý do ông ta "làm ngơ" với tình cảm của Christine vì James không muốn "chuyện tình mới" bị trục trặc vì vấn đề "child support" từ cuộc hôn nhân trước...

*

Ăn trưa xong, tôi định ra gặp Christine coi lịch trình công việc buổi chiều để tiện bề sắp xếp thời gian vì tôi đang tính dành vài tiếng đồng hồ tâm sự với James. Nhưng tôi chưa kịp lên tiếng, chị ấy đã nhanh nhẩu:

- Chiều nay không có gì quan trọng. Báo cáo Tam Cá Nguyệt I-2007 tôi đã viết xong rồi đây, lúc nào rảnh Duy xem lại nhé. Mà này, "Lão James" sắp tái giá... với một cô người Á Đông xinh xắn, ở đâu trên West Chester, Pennsylvania. Đúng là "Lão Già mắc dịch!" Làm phách bao nhiêu năm, tưởng lão đã...

Tôi giật mình khi nghe Christine nhắc về cô vợ sắp cưới của James nhưng đoán biết chị ta đang đau lòng và khó chịu nên tôi chỉ với tay nhận bản báo cáo rồi dịu giọng:

- Cám ơn Christine. Chiều nay chúng ta khá rảnh rỗi đấy. Nếu chị cần làm gì hay đi đâu, cứ tự nhiên nhé. Tôi ngồi nghiên cứu xấp hồ sơ này cũng hết mấy tiếng đồng hồ rồi.

- Thế nào "Lão James" cũng dẫn cô ả trở lại để khoe với "xếp"!

Rồi với giọng thê lương, chị ấy bộc lộ tâm sự :

- Ôi! Chán quá! Hay Duy cho phép tôi nghỉ chiều nay đi "shopping" cho khuây khỏa nhé? Tôi không muốn nhìn thấy bản mặt "câng câng" (quite impudent) của "Lão James" bên cạnh một người đàn bà khác!

- OK.

Trở vào văn phòng, nhưng thay vì xem lại bản báo cáo, tôi lại ngồi thẫn thờ suy nghĩ, thắc mắc tự hỏi không biết vợ sắp cưới của James có phải là "cô ấy" hay không.

Hơn nửa năm về trước, khi tôi triệu tập một cuộc họp đại diện các văn phòng kỹ thuật của National Geographic ở Hoa Thịnh Đốn, James đã năn nỉ xin tôi cho phép về Thủ Đô trước vài hôm vì một lý do riêng.

James là một trong những trưởng phòng xuất sắc nhất của sở nên tôi cũng chẳng tiếc gì mà không duyệt chi thêm vài đêm khách sạn và tiền ăn; thêm vào đó, tôi vẫn có thể nhờ James giúp thêm một số công tác chuẩn bị cho ngày đại hội. Với Christine, có lẽ chị ấy sẽ vui nhiều vì có dịp cho hai người gặp nhau nhiều hơn...

Tuy nhiên, ngay sau khi nhận phòng ở khách sạn, James đã gọi điện thoại cho tôi:

- Chiều nay "xếp" có rảnh không?

- Để xem. Ông định xin phép dẫn Christine bát phố, phải không?

- Không đời nào. Hôm nay là ngày giỗ của em tôi! Đó là lý do tôi xin "xếp" cho về Thủ Đô trước ngày họp. Tôi chỉ muốn dẫn "xếp" đến giới thiệu với em tôi rằng ông đã dạy cho tôi biết về phong tục tập quán của người Việt Nam lúc nào cũng tưởng nhớ ngày chết của người thân. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" phải không "xếp"?

- Xin lỗi, tôi vô ý quá! Bây giờ ông đến văn phòng rồi cùng mình đi.

- "Xếp" đón tôi được không? Tôi ngại đụng đầu Christine lắm! Nếu chị ấy đòi theo,"xếp" sẽ khó xử nữa.

- OK.

Sau khi đậu xe ở góc đường 21 và Constitution, chúng tôi tản bộ theo dòng người hướng về phía bờ tường cẩm thạch khắc tên 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh thời chiến tranh Việt Nam. Hai tay James nâng niu một bông hồng mầu trắng, mắt hướng về một cõi xa xăm, thẫn thờ, lặng lẽ cùng tôi tiến gần tới chỗ có khắc tên người em song sinh tên Jack đã bỏ mình bên Việt Nam. Tôi đã từng theo James đến thăm nơi này vài lần nhưng chưa bao giờ đúng vào ngày giỗ như hôm nay.

Khi tới gần bờ tường có khắc tên của Jack, hai chúng tôi sững sờ khi nhìn thấy một phụ nữ Á Đông "mặc áo nâu sòng" đang nhắm mắt đứng yên như chìm vào cõi hư không vô định, một vài giọt lệ trào ra từ khóe mắt, long lanh nhỏ giọt trên hai gò má dưới ánh nắng vàng mùa thu.

Người phụ nữ ấy cũng cầm trên tay một bông hồng mầu trắng, hai tay chậm rãi dò theo từng nét khắc trên bảng tên của Jack, miệng lẩm bẩm như đang nức nở nghẹn ngào...

James và tôi lặng lẽ vào đứng bên cạnh người phụ nữ. Tôi nghe thoang thoảng trong gió một giọng nói tiếng Việt thì thầm: "Em nhớ anh nhiều lắm... Mãi mãi em vẫn yêu anh..."

Tôi giật thót người. James cũng quay phắt qua tôi, hai mắt nhớn nhác nhìn tôi như dò hỏi xem "cô ấy" nói gì. Tôi chưa kịp lên tiếng, nàng đã mở to mắt trợn trừng nhìn James một lúc thật lâu rồi oà lên khóc lớn: "John! Có phải anh đây không?" Tôi chưa kịp hoàn hồn thì chẳng hiểu sao nàng đã quay phắt lại, vừa khóc vừa chạy.

James thả vội bông hồng trắng dưới bảng tên của em mình, vừa rượt theo vừa hét lớn: "Minh-Thu. Minh-Thu..."

Phải mấy phút sau tôi mới nhớ lại câu chuyện gia đình James đã kể cho tôi nghe hôm đầu tiên tới ăn cơm tối với họ.

Tôi cố moi óc nhớ lại tấm hình phóng lớn treo trong phòng ngủ của Jack nhưng không thể nào mường tượng được một chút gì liên hệ giữa cô gái trong hình và người phụ nữ tôi vừa gặp.

Tôi nhắm hướng đuổi theo hai người. Tôi bắt gặp nàng đang ngồi khóc bên bức tượng đồng "Ba Chiến Sĩ" - "The Three Servicemen" (also referred to as "Three Fighting Men" or "Three Infantrymen") is not a war Memorial but a Memorial to those who served in the war, both living and dead - là đài tưởng niệm những chiến sĩ đã từng phục vụ trong cuộc chiến, người chết cũng như còn sống. James đang sững sờ đứng bên cạnh, hai mắt cũng chan hòa nước mắt.

Tôi không còn nhớ hai người, kẻ đứng người ngồi, khóc tới bao lâu, nhưng trước khi hoàng hôn xuống, chị Minh-Thu đã đồng ý cùng đi ăn tối với tôi và James.

Qua câu chuyện, tôi hiểu được lý do chị Minh-Thu nhìn lầm James với người em song sinh ngày trước chỉ nhờ cặp mắt chứ vóc dáng bề ngoài thì chị ấy không tài nào nhận ra. Phần James, ông ta cũng không giải thích được tại sao đã buột miệng gọi "Minh-Thu" khi nàng bỏ chạy. Phải chăng là hương hồn của người em đã khuất thôi thúc James phải chạy theo Minh-Thu như một nhân duyên tiền định?

Trong nức nở nghẹn ngào và nước mắt, chị Minh-Thu đã kể lại cho chúng tôi nghe về quãng đời gian nan của chị từ mùa thu năm đó. Chị đã quyết định để tang người chồng chưa cưới 3 năm cho trọn đạo rồi xin quy y cửa Phật. Tuy nhiên, tang chồng chưa mãn vận nước đã đổi thay và gia đình ly tán... Minh-Thu theo gia đình người chị ruột về lập nghiệp tại một vùng "Kinh Tế Mới" gần biên giới Cao-Miên sau khi người anh rể đã khăn gói lên đường đi học tập cải tạo.

Mấy năm sau, một lần nữa, nàng lại theo chị và các cháu chạy loạn vì chiến tranh Việt-Miên. Thôi thì trăm cay ngàn đắng dồn dập đổ xuống suốt bao nhiêu năm trường nhưng Minh-Thu vẫn một lòng "tu tại gia" thờ chồng.

Hơn 15 năm trước, gia đình chị nàng được qua Mỹ theo diện H.O. Mấy năm sau, nhờ sự giúp đỡ của anh chị, Minh-Thu và đứa cháu còn kẹt lại vì "quá tuổi" đã xin xỏ, chạy chọt giấy tờ để dọn về Sàigòn. Ở đó Minh-Thu an phận sống đời buôn thúng bán bưng trong các ngõ hẻm để sống qua ngày với cháu. Nhưng rồi bốn năm sau người cháu rồi cũng ra đi đoàn tụ gia đình. Minh-Thu không hy vọng gì nhiều vào giấy tờ bảo lãnh của chị mình nên dự tính sẽ thật sự "phát nguyện quy y". Lâu nay chị cứ lưỡng lự không dám vào tu ở chùa vì thỉnh thoảng John vẫn còn hiện về trong giấc mơ và nàng không bao giờ quên được hình bóng người chồng chưa cưới đã vĩnh viễn ra đi!

Hơn một năm trước, Minh-Thu được qua Mỹ đoàn tụ với gia đình người chị ở tiểu bang Pennsylvania. Ngay khi vừa đến Mỹ, ước mơ duy nhất của nàng là tìm dịp về Thủ Đô viếng "mộ chồng" một lần cho thỏa lòng thương nhớ.

Sau bao nhiêu ngày tháng chuẩn bị, Minh-Thu đã sắp xếp tới viếng "mộ chồng", dù "mộ" chỉ là một tấm bảng ghi tên trên bức tường của đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam, với một bông hồng mầu trắng, vào đúng ngày giỗ thứ 34 của chàng.

Minh-Thu đã ngừng kể từ lâu nhưng nước mắt vẫn dầm dề. Tôi nhìn lên thấy James cũng đang nghẹn ngào xúc động. Tôi kể cho chị Minh-Thu biết về gia đình James... Chị ấy đã bật khóc nức nở khi biết rằng từ mấy chục năm nay cha mẹ của John đã nhận nàng làm dâu và tấm hình cuối cùng của hai người cũng như tất cả thư từ, kỷ vật còn lại của John vẫn được giữ nguyên trong phòng như ngày nào John vẫn còn ở với cha mẹ. James vội vã gọi điện thoại về báo tin cho cha mẹ. Hai ông bà năn nỉ nhờ tôi thuyết phục Minh-Thu dọn qua ở với ông bà, nhưng nàng chỉ hứa sẽ tới thăm khi hoàn cảnh cho phép và nàng cũng rất muốn được nhìn xem nơi John đã được sinh ra và lớn lên, nhất là nhìn lại những tấm hình ngày xưa mà nàng đã đánh mất trong thời di tản. James và Minh-Thu trao đổi điện thoại, địa chỉ...

Tôi giật mình trở về với hiện tại vì một giọng nói tiếng Việt rất ngọng, ngượng nghịu và ồm ồm:

- Chào "ông xếp". Tôi muốn giới thiệu "nhà tôi sắp cưới".

Tôi nhìn lên thấy James đang "tươi rói" đứng chắn ngang cửa văn phòng và vài tiếng cười khúc khích mé ngoài. Tôi dí dỏm đáp lại bằng tiếng Việt:

- Chưa cưới thì vẫn là "nhà người ta" chứ không phải "nhà tôi" đâu James à! Vào đây, vào đây!

Chị Minh-Thu tay trong tay với ông James e thẹn bước vào văn phòng. Chị ấy đã hoàn toàn lột xác. Hình ảnh một người phụ nữ gầy còm ốm yếu, đôi mắt u uẩn đau buồn và lúc nào cũng sẵn sàng nhỏ lệ không còn nữa. Khuôn mặt của chị Minh-Thu bây giờ là biểu tượng của sự tươi trẻ, hồn nhiên và hạnh phúc mặc dầu chị đã trên 50 tuổi. James nâng tay Minh-Thu hớn hở tuyên bố bằng tiếng Anh:

- Chúng tôi mới đính hôn cuối tuần vừa rồi "xếp" ạ. Tôi đang hạnh phúc lắm!

Tôi đáp lại bằng tiếng Việt vì cố tình nói cho chị Minh-Thu nghe:

- Chúc mừng! Chúc mừng anh chị!

- Nói tiếng Anh đi "xếp"! Tôi chỉ mới học nói được vài câu tiếng Việt nhưng nghe thì không hiểu gì cả. Tuy nhiên, với "cô giáo" dễ thương này, tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa.

Chị Minh-Thu chỉ tủm tỉm cười trong hạnh phúc chứ không nói tiếng nào. Tôi chưa lên tiếng thì James đã xổ một tràng dài, không kịp thở:

- "Xếp" phải đi đám cưới tụi tôi nhé. Cha mẹ tôi nói sẽ gọi cho xếp đó. Nhưng chuyện đó tính sau, tôi cần "xếp" giúp tôi việc này ngay vì Minh-Thu không chịu giải thích cho tôi. À quên, "xếp" có biết không? Tôi đã yêu Minh-Thu ngay sau lần gặp đầu tiên với "xếp" đó và tôi đã ngỏ lời ngay khi đón Minh-Thu qua Evanston thăm cha mẹ tôi; nhưng "cô ấy" cứ làm khó dễ hoài. Cha mẹ tôi qua Pennsylvania thăm gia đình Minh-Thu và phải năn nỉ mãi cô ấy mới đồng ý. Tuy nhiên, "cô ấy" lúc gọi tôi là James, lúc Jack, lúc John... Tôi không quan tâm, miễn chúng tôi yêu nhau là được rồi. Nhưng sau hôm "đám hỏi", ông anh rể của Minh-Thu đề nghị rằng chỉ cần gọi là "J" được rồi, vì cả 3 cái tên đều bắt đầu bằng "J"... Nhưng vì tiếng Việt không có chữ "J" nên ông ấy bảo tôi sửa lại thành "Dê", nghĩa là "goat" đó. Tại sao vậy "xếp"? Rồi ông ấy lại bảo theo phong tục Việt Nam, "Dê" tượng trưng cho số 35, rất phù hợp quãng đường 35 năm từ khi Minh-Thu và em tôi dự tính làm đám hỏi cho tới ngày tôi và nàng đính hôn. Ý Trời! Tôi mù tịt, chẳng hiểu gì cả!

James chưa dứt lời mà chị Minh-Thu đã nháy nhó ra hiệu cho tôi đừng giải thích. Tôi nghĩ chắc chị ấy sợ "người yêu" hiểu lầm về chuyện "dê cụ" lắt léo trong tiếng Việt. Tôi đánh trống lảng:

- Từ từ chứ ông bạn. Ông hỏi nhiều quá tôi biết làm sao mà trả lời?

- "Xếp" thông cảm nhé. Tôi đang yêu mà!

Tôi cũng cảm nhận được hạnh phúc của hai người nên đề nghị:

- Chúng mình kiếm chỗ ngồi uống nước rồi nói chuyện nhiều hơn.

- OK "xếp". Em thích chứ, Minh-Thu?

Chị Minh-Thu nhỏ nhẹ:

- Duy đưa chị và "ông ấy" đến Eden được không? Chị nghe nói chứ chưa bao giờ tới.

Hai người vẫn tay trong tay theo tôi vào thang máy xuống nhà lấy xe. Trông họ thật hạnh phúc và đẹp đôi. Tôi nhớ lại một câu nói đã nghe ở đâu đó: "Khi đang yêu và được yêu, người con gái nào cũng trở nên xinh đẹp lạ thường!" Lần đầu tiên trong đời tôi thực sự cảm nhận được phép mầu của tình yêu nam nữ.

Tôi xin phép hai người để viết lại những dòng này như một lời chúc mừng cho tình yêu của họ. James chỉ xin tôi đừng tiết lộ "tên họ" (last name) của gia đình và "chị ấy" yêu cầu tôi đổi tên của chị thành Minh-Thu để người ta không biết chị là ai...

Sau 35 năm, một chuyện tình bắt đầu trong gian khổ và nước mắt từ Cái Sắn, Việt Nam đang bắt đầu "nẩy chồi đơm bông" tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, và trong tương lai rất gần sẽ "kết trái" ở vùng Evanston, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ...
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #30  
Cũ 05-02-2009, 03:29 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Chuyện Lan Man Về Job Mỹ
Phạm Chinh Đông (vietbao)

Vợ chồng con cái nhà hắn đến Mỹ khoảng giữa năm 1996 theo diện HO. Ai sao mình vậy, trước lạ sau quen, đến nay thì cũng bình thường như mọi người. Con cái thì có ba đứa. Đứa lớn nhất, con trai, ở lại với bà ngoại.

Thật ra, cu cậu không đi vì quyến luyến người Bà đã phụ mẹ nó nuôi nấng, cưng chiều từ lúc mới sanh khi cha nó vừa bị CS bắt đi tù cải tạo. Ông ngoại đã mất, mẹ nó là đứa con duy nhất nay lại theo chồng qua Mỹ, bà cụ thực sự đơn độc.

Ngày ra đi, bà cụ đã gần tám mươi, đã bắt đầu lú lẫn nhiều. Một hình ảnh tang thương có lẽ suốt đời không thể quên được: Sáng sớm lên đường, trời còn tối mù, thôn xóm lặng lẽ, xe honda ôm tới trước ngõ chở gia đình lên bến xe huyện để từ đó về Sài Gòn, bà cụ cầm đèn dầu con cóc lọ mọ đi ra và thều thào hỏi, tụi này đi đâu mà sớm dữ vậy?... Tử biệt không nói làm gì, còn sinh ly như thế ấy thì chắc hẳn là đau lòng lắm.

Hai mống bên này, đứa trai, đứa gái. Cả hai đều đi học, và may mắn, cả hai cũng học khá và còn biết vâng lời. Còn hai vợ chồng thì đi làm. Mỗi ngườøi làm một hãng. Hắn đầu tiên xin làm hãng áo quần. Vì ốm yếu sau sáu năm ở tù Cộng Sản, hắn cố xin cho bằng đượïc vào hãng này vì nghĩ rằng áo quần chắc phải là nhẹ nhàng. Ai dè quần áo là quần áo Jean, xếp hai mươi mấy cái vào một thùng giấy rồi chất từ từ lên cái bệ gỗ để chờ xe nâng kéo đi. Mỗi bệ như vậy phải chất cao lên 5 tầng. Tầng 1, tầng 2, tầng 3 thì chưa thấy sao; nhưng bắt đầu qua tầng 4 rồi tầng 5, lúc đó mới sao sáng đầy trời! Hãy nghĩ đến cảnh một tay cà tong cà teo, khệ nệ vác một thùng giấy nặng gần 50 pao mà chất lên chỗ cao hơn đầu hắn, từ sáng tới chiều! Thế nên ráng được hai bữa, hắn chịu hết nỗi, hắn dông.

Có người bạn rủ vào làm hãng sắt. Hắn mất vía, áo quần còn dãn xương sống cỡ đó, sắt thì có nước chôn luôn, thôi để từ từ kiếm việc khác vậy.

Thân làm thuê, làm mướn mà ốm yếu quá cũng thiệt bất lợi. Càng nghĩ hắn càng hận thù lung tung. Hận lũ cộng sản đày đọa hắn chết lên chết xuống suốt 6 năm trời. Hận đám lãnh tụ đầu sỏ của hắn đã buông súng ôm vàng chạy ra nước ngoài, bỏ mặc những người mà chúng luôn gọi là chiến hữu. Lò mò 21 năm sau, hắn may mắn lê được tấm thân tàn qua đây. Qua rồi, hắn càng thêm ê chề.

Người bạn vẫn nằn nì rủ hắn đi làm chung cho có bạn. Nể lời, hắn đi thử. Hóa ra, sắt nhẹ hơn quần áo trời ạ ! Thì ra món nào nặng vừa vừa thì cầm, thì bưng; còn món nào nặng quá cỡ thì dùng máy kéo, máy nâng. Từ đó, hắn khám phá ra một chân lý có thể rất cũ: một là rất nhẹ, hai là rất nặng, lưng lưng chừng chừng là trắng con mắt đấy!

Một năm sau, người bạn khác chỉ cho hắn đi làm thêm trong ngày thứ sáu . Việc này không trở ngại gì vì hãng sắt chỉ làm 4 ngày mỗi tuần ( mỗi ngày 10 tiếng ). Từ đó, hắn làm thêm nghề lau chùi, dọn dẹp (clean) cho một gia đình người Mỹ, mỗi tuần một lần.

Gia đình này, ông chồng là bác sĩ, không hiểu công chuyện làm ăn ra sao mà mỗi tuần đều phải đi Texas ba bốn ngày; còn bà vợ làm chủ một công ty cho mướn xe dọn nhà. Họ có hai đứa con, đứa trai lớn đã tốt nghiệp trường Luật đang làm việc ở Pittsburgh, đứa gái em đang học năm chót Y khoa ở NewYork. Thành ra căn nhà lớn như vậy mà chỉ có hai người ở nên chẳng có vẻ gì dơ. Nhưng không lẽ đến đó để ngồi chơi! Hắn tức cười hoài, tự nhiên được của hời. Cứ loay hoay lau lau chùi chùi trong cái nhà bự chảng đó từ 8 giờ rưỡi sáng tới 5 giờ chiều là được 100 bạc đem về "cho con ăn gạo".

Quả là cái nghề cao giá gớm. Không cần thâm niên, không cần chuyên môn, bằng cấp mà mỗi giờ vẫn được gần 13 đồng. Tuy nhiên, chuyện tiền bạc đó cũng thích thú như chuyện bà chủ nhà thường kể việc này việc kia cho hắn nghe. Bà này tâm địa rất tốt nhưng cái miệng hình như thích bép xép.

Hắn tiếng Mỹ không bao nhiêu nhưng cũng đủ để hiểu bà ấy nói gì. Còn phải đối đáp lại thì hắn quơ hơi nhiều dù rằng hắn viết được, đọc được. May mắn, bà này thuộc dạng thông minh cao nên những lần nói chuyện giữa hai người đều không bị bế tắc.

Ngay hôm đầu tiên bả đã kể lễ cho hắn biết rằng hai con mèo của bả già lắm, con mèo xám 18 năm, con mèo vàng nâu 14 năm, đặc biệt nhất là hai con này không ưa nhau, tụi nó không bao giờ nói chuyện (they never talk to each other), có lúc con này muốn nói chuyện, meo một tiếng thì con kia khịt một cái rồi bỏ chạy mất luôn... Nhìn cách diễn tả bằng lời, bằng mắt, bằng tay chân của bà Mỹ, hắn nhịn không nỗi cười té lên té xuống. Dĩ nhiên bà Mỹ nghĩ rằng hắn cười vì chuyện hai con mèo.

Lại có lần, hắn đang làm ở tầng dưới thì bà chủ hồng hộc chạy tới biểu, chú lên lầu tôi chỉ cho coi. Hắn vội đi theo, trong bụng cứ phân vân không biết bả tính mắng vốn cái gì đây. Ai dè bả dẫn vào phòng ngủ, chỉ vào một cục gì phồng lên dưới lớp mền mà nói nhỏ nhỏ đầy vẻ thích thú: Con mèo đấy ! Ờ, không biết làm sao nó chui vào đó được mới độc chớ ! Hắn thì mỉm cười khi nghĩ rằng thịt mèo xào lăn mà nhậu với rượu đế trong lần hành quân giải tỏa Cồn Cù mới độc hơn !

Bốn tháng sau, buổi sáng mới tới làm, bà Mỹ nói ngay với hắn : Vợ chồng tôi vừa ly dị xong, tuần sau tôi dọn qua nhà mới, nhà này để ổng ở. Chú lau dọn xong cái nhà bếp rồi đi theo tôi qua bên đó thu xếp vài việc. Hắn chưng hững. Mỗi lần tới đây, hắn đều thấy hai người đâu có vẻ gì sẽ phải ly dị nhau. Và nhìn bức ảnh gia đình họ đầm ấm bên nhau trong phòng khách, tự dưng hắn cảm thấy xót xa, ngậm ngùi. Có ai ngờ được một gia đình như thế này, chia vui xẻ buồn, cùng sướng cùng khổ suốt 30 năm nay, vậy mà bắt đầu từ tuần sau, cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, làm như chưa hề biết nhau ! Bất giác, hắn rưng rưng nước mắt.

Bà Mỹ ngạc nhiên rồi cũng khóc theo. Bà than thở- 30 năm nay, tôi không có hạnh phúc. Ông ấy trai gái lăng nhăng dữ quá. Hiện thời ổng đang ở với một con nhỏ dưới Texas. Hắn nói : Việt Nam là dân tộc chịu nhiều chia lìa, mất mát nhất, như tôi đây phải bỏ cha mẹ, anh em, giòng họ mà qua đây sống trơ trọi như thế này, thế nên chúng tôi rất sợ sự đau đớn của phân ly. Tôi cầu xin đến một ngày nào đó khi bà thông cảm cho ông và ông cũng sẽ thấy không có ai bằng người vợ từ thời xuân xanh của mình, rồi hai người trở lại sống bên nhau thì tôi mừng vui lắm. Bà Mỹ buồn bã nói, cảm ơn chú, nhưng cái đồ đó không có biết vợ, biết con đâu, chú ơi !

Một tuần sau, bà Mỹ dọn đi. Cũng không xa nhà cũ bao nhiêu, chừng 10 phút xe là cùng. Hai con mèo thì mỗi người bắt một con. Kể từ đó, công việc của hắn thay đổi chút ít. Tuần này làm ở nhà của ông thì tuần sau làm ở nhà của bà. Hắn tìm cách hòa giải cho hai người. Qua bên ông, hắn nói bà lúc nào cũng nhắc ông, bà sợ ông nấu nướng không rành nên ăn uống thất thường... Ông có vẻ nao nao. Qua nhà bà, hắn nói ông nói ông nhớ bà, không biết bà ở bên này có được khỏe như mọi khi, và bà ơi, tôi thấy ổng lúi húi nấu đồ ăn, thiệt khổ... Bà cúi mặt rưng rưng.

Đến một hôm, hắn buồn bã nói với bà Mỹ rằng hắn thấy con mèo chia cho ổng bỏ ăn, kêu la thảm thiết tối ngày, chắc nó nhớ bạn cũ mười mấy năm của nó, bà nên qua thăm nó một lúc. Bà Mỹ hoảng hốt ngay, thôi chết rồi, con bên này mấy bữa rày cũng bỏ ăn nữa, Tôi phải qua bển liền mới được. Không biết con mèo ra làm sao nhưng sau đó bà qua nhà ông thường hơn, và ngược lại, ông cũng siêng ôm con mèo qua nhà bà, "mình cần phải đem qua đem lại cho chúng đừng nhớ nhau mà bỏ ăn."

Hai tháng sau, bà Mỹ nói với hắn:

- Lần này chú dọn dẹp cho thiệt sạch nghe,rồi đóng cửa bỏ đây. Lần sau thì làm nhà cũ như mọi khi, mỗi tuần một lần. Ổng năn nĩ tôi về đấy!

Hôm ấy, lòng hắn cứ lâng lâng một niềm vui như chính mình vừa được đoàn viên.

Buổi chiều, mới về tới nhà, vợ hắn trịnh trọng cho hay vợ người bạn cùng xứ đã có chồng khác rồi. Hai vợ chồng này đùm túm nhau vượt biên qua đây lâu rồi. Đùng một cái, ông bỏ nhà ra đi sau một trận cãi nhau và bị bà vợ đấm cho mấy cái. Được mấy ngày, bà vợ khóc than, nhờ mọi người gọi dùm ông chồng về. Ông chồng làm nư, không về. Chắc tính đi lông nhông thêm một thời gian nữa cho bỏ ghét. Ai dè, đúng 4 tháng, vâng, đúng 4 tháng thôi, bà vợ đã có một ông chồng khác trong nhà. Làm sao mà hay như vậy thì không ai biết.

Hắn xót xa nghĩ đến những gì đã nói với bà Mỹ về người Việt Nam. Và hắn hỏi vợ, em thấy họ có nuôi con mèo nào không?

Bà vợ nhìn chồng, đôi mắt tròn xoe ...
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
Có 1 thành viên cảm ơn may4phuong vì bài viết có giá trị:
  #31  
Cũ 12-03-2009, 07:11 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Tản Mạn Tình Già
Hà Kim (vietbao)

- Sống ở Mỹ, các chú đừng dại dột ly dị vợ, nhất là ở tuổI xế chiều như bọn mình nghe chưa!

Giọng anh Tư nửa say, nửa tỉnh nhắc nhở đàn em.

- Không còn vợ thì không ai nâng khăn, móc túi mình, có sao đâu anh Tư?

Chú Sáu lên tiếng sảng khoái hạ bệ các bà.

- Vợ bỏ, bỏ vợ thì mình về Việt Nam làm lại cuộc đời, có liền tay một cô vợ trẻ đẹp, các anh ơi...

Tiếng chú Út hân hoan vang lên. Anh Tư đặt nhẹ ly rượu lên bàn, đảo mắt quan sát:

- Hừ, không biết các chú có lường sức mình, đạn dược còn lại bao nhiêu mà đòi làm lại cuộc đời? Hay là chỉ làm cây cầu vững cho các cô trẻ bắt đường qua đây?

Ngồi ở góc bàn, ông Tám chỉ nhâm nhi... nước ngọt. Vì cao huyết áp, ông đã bỏ rượu từ hai năm nay. Ông chậm rãi lên tiếng:

- Anh Tư khuyên đúng đấy! Vợ bỏ còn khổ hơn tù Cộng Sản nữa, mấy anh ạ!

Cả bọn nhao nhao lên, phản đối 'sao ông lại so sánh lạ lùng như vậy. Ông Tám trầm tỉnh, giải thích:

- Minh...đạn dược không còn bao nhiêu để làm lại cuộc đờI, phải không? Ngày xưa, ở tù mình còn đi 'lao động là vinh quang', còn thấy được ánh mặt trời. Ở Mỹ, vợ bỏ có phải mình chung thân trong 4 bức tường, làm kiếp share phòng, ăn cơm to go, khốn khổ vô cùng, đúng không?

Ông Tám lý sự, ngẫm ra cũng phải. Tàn tiệc, mọi người ra về vui vẻ. Các ông đành..ngậm đắng nuốt cay ôm mối tình già đến thiên thu.

Quen tánh nhu mì của các bà vợ Nhật, có khách đến nhà, vợ chồng giận hờn gì cũng phải lịch sự- bà Tám niềm nở tiễn đưa khách. Nghe các ông nói hành nói tỏi mấy bà, nay vắng khách, bà không quên tiếng chì, tiếng chiết:

- Phải đó ông Tám, dại gì bỏ vợ. Còn vợ để có người hầu hạ, cơm nước, nhà cửa tươm tất, cuối tuần tiệc tùng, nhậu nhẹt.

Ông đang đẩy cái máy hút bụi, cười khà khà:

- Thôi mà bà nó ơi, đừng có giận dỗi. Tui cũng biết thân phận đàn ông ở Mỹ, còn thua con chó, con mèo nữa. Bà rửa chén thì tui lau bàn ghế, hút bụi nhà đây nè. Ở Việt nam thì nãy giờ tui nằm... nhịp chân coi tivi hay đọc báo rồi đó nghen bà!

Ông cũng không quên nịnh đầm vợ một câu:

- Lúc nào tui cũng thương bà như hồi còn tấm mẳn, hồi 30 năm về trước đãy bà Tám.

Ông nghiêng người nhìn bà. Dường như ông nhìn thấy trước mắt mình không phải là một mệnh phụ đẫy đà, mà là một thân hình thon thả trong vòng tay rắn chắc của ông ngày nào. Rồi chập chờn hiện về một thiếu phụ gầy nhom, đen đủi, không phấn son, thân cò lặn lội bờ sông, vác gạo nuôi chồng tù tội. Cũng tình nghĩa đó mà ông luôn nhường nhịn bà. Một câu nhịn chín câu lành cơ mà! Phần bà, hầu ông từng bữa cơm, pha từng ly café cũng vì cái tình, cái nghĩa từ thời son trẻ đến nay. Thương lắm, ông từ bỏ chức quyền, xin đổi về quê bà để cưới được bà. Ông ở tù mấy năm, trở về sơ xác. Bà thường rươm rướm nước mắt nhìn ông phụ vợ kiếm sống trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Nhờ ông bà luôn nhớ đến cái tình xa xưa, cái nghĩa dài lâu mà cửa nhà êm ấm.

Dọn dẹp xong, bà Tám đấm đấm lưng, than nhức mỏi, ông an ủi:

- Già rồi, còn trẻ gì nữa bà ơi! Bà đến sofa nằm đọc báo đi, chờ tui clean xong nhà, tui đấm bóp cho.

Làm việc mệt nhọc, được nằm xuống, đọc vài trang báo, bà cảm thấy khoẻ ngay. Bà cầm tờ báo, vô tình lật ngay mục vui cười, bà thích thú, đọc to:

- Có một lão tỉ phú già keo kiệt, mừng sinh nhật cô vợ trẻ đẹp bằng chiếc nhẫn kim cương 3 ly 2. Còn bảo cô vợ rằng viên hột xoàn sẽ to theo số tuổi của cô.

Bà cười hỉ hả, trêu ông:

- Này ông Tám, ông cứ chê tui già, nhìn như bà lão 60 tuổi. Vậy mừng sinh nhật tui năm nay, ông tặng tui chiếc nhẫn hột xoàn 6 ly nhé ông!

Ông nhăn nhó:

-Mấy ngàn bạc một viên nhỏ xíu, hổng biết có chi đẹp mà các bà ham quá vậy. Tui tặng bà cả cuộc đời tui là đủ rồi.

Bà chê bai ngay:

- Hột xoàn lấp lánh ngũ sắc thấy mà sang. Ông thiệt..trùm mền, tệ hơn lão tỉ phú keo kiệt nữa. Thảo nào con gái cứ cười ông món nào 99 cents Ba mới dám mua.

Ông Tám chịu thua để khỏi... thua tiền. Ông ì ạch mang ra tấm nệm, cắm điện, bấm nút đấm bóp cho bà. Bà còn trêu tiếp:

- Ủa, ông hết xí quách nên không đấm bóp bằng tay sao?

Còn nhớ khi xưa, bà vẫn cười lén khi thấy Ba bà, ông cụ đã 80 tuổi mà còn xoa bóp cho vợ dù tay ông đã yếu.

Bà bị phong thấp, thường nhức mỏi, ông tìm mua cái máy cầm tay. Chỉ một thời gian ngắn cầm nó, ông cảm thấy hao tổn sức mình quá. Ông dạo vòng tiệm Fry's Electronic tìm ra cái nệm mang về. Bà cứ việc lên nằm 1/2 tiếng, bên kia ông lim dim nghe nhạc. Thiệt là tiện lợi!

Còn nhớ hôm ông bị đột quỵ. Trên bàn ăn, thình lình ông ngã đùng ra bất tỉnh. Bà khóc lóc, kể lể 'ông ơi, đừng chết bỏ tui một mình'. Rồi chợt tỉnh, bà bấm 911, xe cứu thương ào đến chở ông vào bệnh viện. Bác sĩ, y tá lo cho ông từ A đến Z, chăm sóc nào là thuốc men đến ăn uống, giặt giũ quần áo. Bà không phải lo chi, chỉ ngồi gần bên để ông vui. Quả là tình già ở Mỹ được thể hiện rất dễ dàng.

Ba hôm sau, ông mạnh khỏe, được xuất viện. Nghe con kể lại cảnh Mẹ đóng film bộ Quỳnh Dao, ông cười ha hả, dọa bà:

- Bà hay cằn nhằn, ăn hiếp tui hoài. Tui mà đứt bóng thì bà... lẻ bạn đấy. Không có ai chung tình bằng tui đâu.

Bà vẫn không chịu thua:

- Ông giỏi giang gì, thời thế tạo người đàng hoàng thôi. Nhờ có cái đài số 8 ra rả mà ấm cúng cái nhà đãy! Đài mà tắt thì ông cũng lạnh lẽo lắm.

Dường như ở tuổi trẻ chỉ nghĩ tới tình yêu, xây dựng gia đình và lo tương lai con cái. Còn tuổi xế chiều đã bắt đầu suy nghĩ đến bệnh tật, nỗi cô đơn và cái chết gần kề. Vì vậy, thỉnh thoảng ông bà thường than thở, cùng bàn tính:

- Ông chặn đường... tương lai của tui. Có được bằng lái rồi mà ông không cho tui lái xe. Nhỡ ông có bề nào thì tui làm sao đi ra đường. Con cái đứa có vợ, đứa có chồng, ra riêng hết, có đứa nào ở chung lo lắng cho mình đâu.

- Hơi đâu mà lo xa bà ơi!. Mắt bà đã kém tay chân lại chậm chap, lái xe nguy hiểm lắm. Treo bắng lái ở nhà bếp để... lấy le chơi! Đi làm đã có chồng, có con đưa đón. Thiệt số sung sướng mà bà không muốn hưởng, ngồi không nghe nhạc, ngắm cảnh mà bà than hoài.

- Rồi có ngày ông lụm khụm run rẩy, ai lái đây?

- Ôi! Bà lại lo tầm phào nữa rồi. Chừng đó chắc bà khỏe hơn tui sao? Khó chi, ở Mỹ mà, vé xe bus cho người già có đây, tui cầm tay bà, hai đứa già đưa nhau lên bus đi chợ, đi chơi hổng được sao?

Ở Mỹ mà. Tình già thường được biểu hiện thật thoải mái tự nhiên nơi công cộng. Không ai chê trách mình là 'già dịch' khi ông đưa tay dìu bà bước xuống xe. Hay nơi bàn tiệc, bà không có gì e thẹn gắp vào chén ông miếng cá chiên giòn. Ông cũng thản nhiên rót vào ly bà chút rượu wine 'uống cho hồng đôi má đi bà.'

Trẻ trung hơn nữa, tình già cũng có thể hào hứng sánh bước đến trường. Nhớ những tối đi học ESL, ông bà ngồi bên nhau. Ông nhắc bà từng câu văn phạm, bà giúp ông thêm ý tưởng cho bài tiểu luận. Tan học, ông bà choàng tay nhau ra về, tình tứ không kém gi các cô cậu tuổi trẻ. Có lần thầy Frank hỏi: 'Hai trò kết hôn được bao nhiêu năm?' Bà hãnh diện khoe: 'Dạ, 25 năm'. Ông đùa vui: 'mà tình vẫn như xưa.' Thầy gật gù 'nhìn thấy biết, đáng quí trọng, 2 trò có biết tỉ lệ ly dị ở Mỹ rất cao không?

Bà lẩm cẩm hỏi ông:

- Đồ cổ bao giờ cũng là món đồ đáng quí. Tình già càng đáng trân quí hơn. Tuổi già có thay đổi tính nết, dù có khắc khẩu, hương lửa dù có yếu dần, dài lâu tình nghĩa, càng phải sâu đậm, cớ sao bỏ nhau cho tổn thương cả hai?

Cũng như vui nhộn hơn khi nhìn những cặp tình già âu yếm, dìu nhau trên sàn nhảy, bà bàn chuyện tương lai cùng ông:

- Nghỉ hưu, mắt mình đã mờ, chữ nghĩa mau quên, không thể tiếp tục đi học nữa, chừng đó, 2 đứa mình vào sinh hoạt ở hội cao niên và tập... nhẩy đầm cho vui cuộc đời, ông chịu không?

Lần này, ông nhăn nhó, chì chiết:

- Vô hội, ngườI già... mất nết đó hả?

Bà phản đối liền:

- Ở Mỹ mấy năm rồi, sao ông còn lạc hậu quá! Dancing cũng giống như exercise cho giãn gân cốt. Ông không thấy các cụ ông, cụ bà 60-70 tuổi còn tìm bạn bốn phương cho đời bớt cô đơn đó sao?

Rồi bà ngậm ngùi, tiếp:

- Nghĩ cũng đúng, người già ở Mỹ cô đơn, tội nghiệp quá! Khi hai đứa còn thì còn chung tình. Khi tui... đi trước, tui cho phép ông làm lại cuộc đời đấy. Tui lẻ bóng thì có ngày... 'lạy ông cho tui đi...lấy chồng', ở Mỹ mà! OK nhé ông Tám!

Nghe bà phát biểu, ông muốn ngã ra bất tỉnh:

-Ôi! Bà tiến bộ quá, bà Tám ơi! Thiệt tui đã...lầm đưa bà sang đây.

Riêng bà, vui sướng ngợi ca 'Hoan hô tình già ở Mỹ.'
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #32  
Cũ 19-04-2009, 06:54 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Chúng Tôi Làm Ông Mai, Bà Mai Hụt
Phạm Ngọc Bích (vietbao)

Thật tình mà nói chúng tôi không thích đứng ra làm mai, làm mối cho ai. Lý do là vì chúng tôi không có năng khiếu về lãnh vực đó.

Tôi nghe có người nói ở đời không có gì dại dột cho bằng làm ông mai, bà mai. Là vì khi vợ chồng người ta hòa thuận, hạnh phúc thì không sao, còn lỡ mà cuộc sống của họ lục đục, không được như ý thì quả là phiền phức.
Nhưng đó là chuyện trước kia chứ ở thời đại ngày nay và nhất là cuộc sống trên đất Mỹ này, nếu vợ chồng không thuận thảo, họ chỉ việc đưa nhau ra tòa rồi "đường anh anh đi, đường tôi tôi đi" chứ họ chẳng làm phiền đến ông mai, bà mai. Nghĩ như vậy nên đã có lần vợ chồng tôi tự nguyện đứng ra làm cái công việc mai mối này.

Chúng tôi có một người bạn thân tên là Bob, anh ta là đồng nghiệp của tôi. Bob là một kỹ sư còn tương đối trẻ, anh ta mới khoảng trên 30 tuổi. Bob đang làm chủ một ngôi nhà mới xây khoảng 2 năm nhưng cái bếp chưa hề đụng đến, còn trong tủ lạnh thì lúc nào cũng đầy ắp những đồ ăn đông lạnh. Nhà Bob còn có một dàn DVD và computer rất tối tân. Tính tình Bob hiền lành, lịch sự, thông minh, rất nhậy cảm nhưng anh có vẻ trầm lặng và hay mắc cỡ. Nói chung Bob là người hoàn hảo, có công ăn việc làm vững chắc, nhà cửa đàng hoàng. Anh chỉ phạm vào có mỗi một tội là sống độc thân, "this's a crime against nature" ( đó là tội chống lại tự nhiên).

Vợ chồng tôi có ý muốn giúp Bob thay đổi cuộc sống. Chúng tôi định làm một công việc hệ trọng đối với Bob là tìm cho anh ta một người vợ. Không, có lẽ chỉ là một người bạn gái thích hợp thôi. Oh, no nhất định phải là một người bạn đời chứ. Tuy vậy chúng tôi vẫn chưa biết phải bắt đầu từ đâu trong cái công việc coi bộ không đơn giản này. Tôi cũng nhận ra một điều là Bob không lãng mạn và kiên trì như chồng tôi và vì vậy cần phải tạo ra điều kiện cho anh ta để giúp anh ta tiến tới.

Chúng tôi cũng chưa có sẵn đối tượng nào cho Bob. Chúng tôi nhận thấy việc đầu tiên là phải đặt tiêu chuẩn cho người bạn gái mà chúng tôi sắp tìm để giới thiệu cho Bob. Chồng tôi và tôi đã bàn thảo với nhau, dựa trên kinh nghiệm cũng như sách vở để đưa ra những điều kiện mà người bạn gái của Bob phải có như sau:

1. Unmarried (còn độc thân)
2. Late 20, early 30 (tuổi từ 20 đến 30)
3. Similar interest to Bob (có cùng sở thích như Bob)
4. Good personality (tư cách tốt)
5. Willingness to listen to reason (sẵn sàng lắng nghe và đóng góp ý kiến)

Sau khi đã đặt ra tiêu chuẩn cho việc chọn lựa, tôi nghĩ ngay đến ba cô kỹ sư người Việt đang làm việc cùng công ty với tôi. Thật ra thì Bob đã có gặp cả ba cô gái này rồi nhưng chưa có cơ hội làm quen thôi.

Người đầu tiên là Thúy Uyên. Thúy Uyên là người có vẻ Mỹ nhất trong cả ba cô gái. Thúy Uyên sống một mình, cha mẹ cô ở California. Thúy Uyên biết cách quyên rũ đối tượng. Cô thường mặc những váy đầm hấp dẫn và luôn nở nụ cười duyên để khoe đôi má lúm đồng tiền xinh xắn. Thúy Uyên cười đùa tự nhiên và rất yêu đời. Thúy Uyên giỏi việc nội trợ, nấu ăn ngoan và biết may vá nhưng cô chỉ thích đi ăn tại các nhà hàng Tàu hoặc Thái và thích mặc những bộ quần áo mắc tiền. Chúng tôi nghĩ Bob thích Thúy Uyên nhưng có lần chúng tôi nói với Bob rằng Thúy Uyên không phải là một tách trà "mild" mà cô là một ly cà phê "strong hot", đừng để bị phỏng.

Người thứ hai là Đan Thanh. Tánh tình Đan Thanh trái ngược với sự trầm lặng, ôn hòa của người phụ nữ Á Châu nhưng cô lại có cái chất phác của cô gái miền Nam. Đan Thanh rất thực tế và không thích kiểu tình yêu lãng mạn. Có lần Đan Thanh tâm sự với tôi "Em không muốn có bạn trai. Nếu gặp được người con trai nào vừa ý, hợp nhãn, có nhà cửa đàng hoàng, nghề nghiệp vững vàng thì em sẽ làm đám cưới" . Đan Thanh cho rằng "Dating is a waste of time, money and energy" (hẹn hò chỉ làm mất thì giờ, tốn tiền bạc và hao tổn sức lực). Đan Thanh quả là một thử thách lớn cho Bob vì theo Bob thì đi chơi với bồ cuối tuần là một phần không thể thiếu trong trò chơi tình yêu.

Người thứ ba là Phượng Loan. Phượng Loan trưởng thành trong một gia đình nề nếp của người miền Bắc. Cha mẹ cô trước kia là thành phần trí thức ở Việt Nam. Từ nhỏ Phượng Loan đã được học hỏi về văn chương, mỹ thuật, triết lý. Cô cũng đã từng vẽ nhiều bức họa, viết truyện, làm thơ v.v. Phượng Loan ăn nói nhẹ nhàng, cử chỉ dễ mến. Phượng Loan sống chung với cha mẹ.

Bob biết tôi là người Việt, chồng tôi là người Mỹ gốc Âu Châu và chúng tôi đã thích nghi được với hai nếp sống khác biệt để có được cuộc sống vui tươi. Bob nhìn thấy vợ chồng tôi và những cặp vợ chồng Mỹ- Việt khác vẫn có thể sống êm đềm, hạnh phúc. Đối với Bob thì chủng tộc không thành vấn đề nhưng thích nghi được với phong tục tấp quán Việt Nam lại là vấn đề khác. Bob thích ăn chả giò nhưng anh ta lại không thể nếm vị nước mắm. Bob có thể ăn được những đồ ăn của Mễ rất cay nhưng những món ăn cay của Việt Nam lại làm cho anh ta sít xoa đến chảy nước mắt.

Chúng tôi đã tìm những cơ hội giúp Bob tìm hiểu về văn hóa, về nếp sống và ngay cả tính hài hước của người Việt. Chúng tôi hay mời Bob tham dự những buổi tiệc có đông người Việt. Chúng tôi cũng cho Bob nghe những bài hát karaoke Việt Nam và cho Bob xem những cuốn băng nhạc của Paris By Night. Bob đã được xem những màn trình diễn thời trang áo dài duyên dáng Việt Nam và Bob cũng đã có dịp xem qua đám cưới của người Việt Nam. Nói chung Bob có cố gắng tìm hiểu về sinh hoạt và văn hóa của người Việt.

Năm đó chúng tôi mời Bob tham dự ngày Tết của cộng đồng người Việt tại địa phương. Chúng tôi nghĩ đây là một cơ hội thuận tiện để Bob có dịp làm quen với những cô gái mà chúng tôi đã có ý định sẽ giới thiệu cho anh. Hôm đó Bob đến địa điểm rất đúng giờ. Chúng tôi gặp nhau và Bob đã cùng chúng tôi thưởng thức một chương trình giúp vui cho buổi mừng năm mới. Tôi giải thích cho Bob về phong tục múa lân, lì xì và ý nghĩa của những ca khúc Việt Nam được hát rong dịp này. Bob cũng được xem những màn múa của các nữ sinh và các cháu thiếu nhi Việt Nam. Hôm đó Bob cũng được dịp thưởng thức những món ăn đặc biệt mà Việt Nam thường dùng trong ngày Tết như bánh ít bánh chưng, thịt quay, dưa hấu v.v.

Đúng như dự tính của chúng tôi, Bob đã có dịp gặp cả ba cô gái Việt mỹ miều mà chúng tôi đã chọn cho anh ta. Trước hết là Thúy Uyên. Thúy Uyên xuất hiện trong chiếc áo dài màu hồng. Thúy Uyên là người nấu ăn giỏi cho nên chúng tôi nói chuyện về thức ăn Việt Nam và sau buổi nói chuyện, Thúy Uyên ngỏ ý mời Bob và vợ chồng tôi ăn cơm tối tại nhà cô vào thứ Bảy tuần tới. Sau Thúy Uyên, Bob gặp được Đan Thanh. Hôm đó Đan Thanh mặc đồ xanh đậm. Đan Thanh dễ dàng hòa đồng vào cuộc chuyện trò với chúng tôi. Đan Thanh có năng khiếu về pianô và cô cũng mới mua một chiếc pianô mới. Cô mời chúng tôi đến nhà cô vào ngày Chủ nhật để nghe cô đàn và hát. Cuối cùng thì Phượng Loan và ba mẹ cô cũng đến trong buổi họp mặt này. Phượng Loan mặc một chiếc áo dài màu tím nhạt. Với mái tóc thắt bím trên khuôn mặt tươi tắn, Phương Loan rất hồn nhiên. Trong chương trình giúp vui có tiết mục đọc sớ Táo quân. Phượng Loan đã có cơ hội để chứng tỏ sự hiểu biết rộng rãi của cô. Cô kể cho mọi người nghe về lai lịch ông Táo và vì sao ông có bài sớ quá dài. Phương Loan cũng say sưa nói về văn học, nghệ thuật v.v. là những lãnh vực cô rất ưa thích.

Cuối buổi liên hoan mừng Tết, Bob và vợ chồng tôi đến nhà Phượng Loan theo lời mời của cô và ba mẹ cô. Căn nhà được trang hoàng vơiù những bức tranh sơn mài chen lẫn với những bức tranh vẽ nghệ thuật của Phượng Loan. Tôi cũng thấy hình chụp ngày tốt nghiệp của cô và anh cô được chưng trên mặt bàn computer. Ba mẹ Phượng Loan hẳn đã hãnh diện về thành tích học tập của hai anh em cô. Chúng tôi được chiêm ngưỡng một tập lưu trữ đủ loại tranh vẽ của Phượng Loan mà mẹ cô đã cất rất kỹ lưỡng. Sau màn xem tranh, Phượng Loan còn giới thiệu với chúng tôi về các tác phẩm trứ danh của các nhà văn Trung Hoa rồi cô đọc thơ cho chúng tôi nghe. Khi Phương Loan đọc bài thơ miêu tả một cô gái kiều diễm đã làm rung động một chàng trai lãng mạn, si tình thì Bob ngồi nghe với vẻ mặt trầm ngâm , đầy tư lự . Giọng đọc của Phượng Loan lơi cuốn làm sao:

Her hair tied up with a ribbon
And fixed with a fade pin;
Her flowing robes
Soft and thin,
Between her adorned brows
A shallow furrow


Tạm dịch:

Tóc nàng thắt nơ
Và cài trâm cẩm thạch;
Áo nàng
Mềm mại và mỏng manh
Giữa cặp lông mày thanh tú
Thanh thoát với sông mũi dọc dừa


October: too much wind
Accompanied by rain
Beating on two or three
Palmtrees
A helpless man
In an endless night


Tạm dịch:

Tháng Mười, gió lạnh vi vút
Mưa rơi lác đác
Đập vào vài ba cây thốt nốt
Một chàng lãng tử si tình
Trong đêm dài vô tận cô đơn


Chúng tôi ở nhà Phương Loan thật lâu mới từ giã . Khi ra ve,à vợ chồng tôi không biết sẽ có gắn bó gì giữa Bob và Phương Loan sau buổi gặp gỡ này hay không.

Chiều thứ Bảy sau đó, chúng tôi đến căn apartment của Thúy Uyên như đã hẹn. Khi vợ chồng tôi tới nơi thì Bob đã có mặt ở đó và anh đang gíup Thúy Uyên sắp xếp để chúng tôi có đủ chỗ ngồi ăn tối và xem TV. Thúy Uyên trổ tài nấu bún bò Huế, làm chả giò, chả Huế và nấu chè sen. Thúy Uyên phục vụ khách rất tận tình. Có lúc khi đưa thức ăn cho Bob, cô đã vô tình (hay cố ý) để cho mái tóc dài của mình phớt nhẹ trên khuôn mặt Bob. Cô vừa cười vừa xin lỗi làm Bob đỏ mặt thẹn thùng nhưng có lẽ trong lòng anh cũng thích. Thúy Uyên hỏi Bob "Did you like everything?" Bob trả lời "Vâng, everything" Thúy Uyên nói thêm với nụ cười lẳng lơ " I'm glad I could satisfy you". Thật khó có thể đoán giữa hai người họ sẽ có chuyện gì hay không?

Hôm sau là ngày Chủ nhật đẹp trời, Bob và vợ chồng tôi đến nhà Đan Thanh khoảng 2 giờ chiều. Vì vậy chỉ có snacks chứ không có ăn uống. Nơi Đan Thanh ở tuy nhỏ nhưng rất gọn ghẽ với cách trang trí thanh thoát. Chiếc pianô được đặt giữa phòng khách, bên cạnh là chiếc giá nhạc đã có sẵn một bản nhạc ở trên đó. Đan Thanh giới thiệu bản nhạc mà cô sắp đàn và hát cho chúng tôi nghe là bản "When I fall in love" (Khi tôi yêu). Đan Thanh đệm nhạc trên phím đàn với đôi tay thon thả, mềm mại và bắt đầu cất cao giọng:

"When I fall in love,
It will be forever
Or I'll never fall in love
"

Tạm dịch:

"Khi tôi yêu,
Tôi sẽ yêu mãi mãi
Hay chẳng bao giờ yêu
"

Đan Thanh đang đàn và hát say sưa thì có điện thọai mà cô biết là điện thoại từ gia đình. Cô xin lỗi tạm gián đoạn để nói điện thoại. Khi cuộc nói chuyện chấm dứt, cô quay lại với chiếc piano và hỏi "Where was I" (tôi ngừng ở đâu rồi). Bob chỉ vào vài hàng gần cuối của bản nhạc tình và Đan Thanh lại tiếp tục rất tự nhiên nhưng cô không để ý rằng cô đã bỏ qua vài đoạn nhạc.

"And the moment I can feel that
You feel that way too
Is when I fall in love with you
"

Tạm dich:

"Và bỗng chốc em cảm giác
Anh có cùng tâm trạng
Là chúng ta yêu nhau
"

Chúng tôi ở chơi vài tiếng đồng hồ rồi ra về. Chúng tôi cũng không chắc "Cupid shoot his arrow" (huyền thoại Cupid vị thần tình yêu có mũi tên đặc biệt khi bắn vào tim người nào thì người đó sẽ có một tình yêu tuyệt vời). Chúng tôi không biết trái tim của Bob có bị đâm lũng bởi mũi tên của Đan Thanh hay không. Tại nơi làm việc tôi cũng không nghe ngóng gì ngoại trừ nghe Bob nói "I had a great time" (tôi đã có được thời gian vui vẻ).

Trong dịp "Tulip Festival" (ngày hội triển lãm hoa tulip) ở Ottawa (Canada) gần bế mạc, vợ chồng tôi mướn một chiếc xe "van" và mời Bob cùng với ba nàng xinh đẹp cùng tham dự. Mục đích của chúng tôi là tạo thêm một cơ hội nữa cho Bob làm thân với Thúy Uyên, Đan Thanh và Phương Loan. Hội chợ tulip được tổ chức hàng năm, trưng bày đủ loại hoa tulip với muôn màu muôn sắc rất đẹp. Cuối buổi triển lãm, ban tổ chức dành một số bình tulip để tặng không cho du khách. Chúng tôi khuyến khích Bob nên chọn để tặng cho mỗi nàng một bình tulip. Chúng tôi cũng chụp rất nhiều hình ảnh trong chuyến đi chơi này. Chúng tôi hoàn toàn không rõ sau chuyến đi này có cô nào muốn Bob trở thành "boy friend" của mình hay là Bob có ý định chọn cô nào làm "girl friend" của anh hay không?

Thời gian trôi qua, công ty của chúng tôi có nhiều thay đổi. Thúy Uyên quyết định rời công ty để nhận một công việc làm mới ở miền Nam California. Đan Thanh được thăng chức và được công ty cử đi nắm giữ một chức vụ cao hơn ở tiểu bang khác. Phương Loan cũng xin chuyển đến một tiểu bang ấm áp vì tình trạng sức khỏe của bà mẹ. Chỉ còn Bob ở lại công ty và anh độc thân vẫn hoàn độc thân với nhiều kỷ niệm bên những cô gái Việt Nam kiều diễm.

Cho đến nay, tôi vẫn thắc mắc không biết có phải chúng tôi chưa làm đủ những việc mà ông mai, bà mai cần làm? Hay là vì ông tơ bà nguyệt vẫn chưa chịu xe duyên cho Bob? Hoặc cũng có thể là chúng tôi đã quá tham lam, giới thiệu một lần đến ba nàng tiên mà "mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười" khiến cho anh chàng Bob choáng váng, không biết chọn người nào, bỏ người nào? Hay là tại anh chàng Bob quá nhút nhát, quá thụ động nên đã không lọt được vào mắt xanh của cả ba nàng?

Dù sao thì chúng tôi cũng có cái thú trong trò chơi mai mối này. Chuyện thất bại là chuyện đã qua. Ngày mai sẽ lại là một ngày mới "to make a match" (để đi làm mai).
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #33  
Cũ 14-06-2009, 07:03 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Thiên Lý
Huyền Thoại (vietbao)

Năm 1976, tôi làm thiện nguyện cho cơ quan USCC để giúp người Việt ổn định trong những ngày đầu bỡ ngỡ trên một xứ sở đầy khác biệt. Mỗi chiều, sau công việc ở sở làm chính, tôi đến đây khoảng hai giờ đồng hồ. Thứ bảy, tôi làm trọn ngày. Chủ nhật tôi dành cho riêng tôi. Ngoài ý nghĩ "làm phúc lấy đức", tôi cũng muốn bận rộn để quên bớt nỗi buồn thất tình đang gậm nhấm con tim . Hồi trước, tôi có một anh bạn gốc người Long An. Lúc người yêu ôm cầm sang thuyền khác, anh buồn quá, đêm đêm ôm cái cassette, nghe đi nghe lại bài hát có câu " Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi! " Lúc đó, tôi thấy tội nghiệp anh ta, và tự hỏi sao lại có người yêu hết mình đến cỡ đó. Làm như trên đời không còn ai nữa để mà yêu! Nhưng bây giờ thì tôi hiểu được nổi sầu của kẻ bị "bồ đá".

Sơ Catherine cho tôi hay có một cô Việt Nam mới đến xin làm thiện nguyện "on-call". Nghĩa là khi nào chúng tôi cần thì gọi cho cô biết, nếu cô sắp xếp được thời giờ thì cô đến giúp, chứ cô không muốn có thời khóa biểu nhất định. Tôi không hỏi sơ cô này là ai, nhưng đoán cô là dân đang du học trong lúc quân của ông Hồ vô Nam giải phóng tự do. Chứ người mới tới, ai có điều kiện mà đi làm thiện nguyện!

Cô đến làm hồ sơ và nhận thẻ nhân viên nhằm lúc tôi đang có mặt. Đó là một cô gái nhan sắc trung bình, nhưng có nụ cười rạng rỡ, khoe hai hàm răng đều như hai hàng bắp. Cô cao hơn những người con gái Việt Nam mà tôi quen, và tướng đi của cô cũng không tha thướt hoặc làm dáng chút nào. Cô mặc quần jean, áo sơ mi màu xanh đậm bỏ ngoài quần, chân mang giầy tennis trắng. Tóc cô cột ngược về phía sau thành một một lọn rỗi giữ chặt bằng cây trâm nhựa nhọn hoắt. Đôi vai ngang của cô vì vậy càng thêm ngang. Căn cứ vào tờ khai lý lịch, tôi biết cô kém tôi một tuổi. Cô tên Thiên Lý, Lê Thiên Lý. Sau khi giúp cô hoàn tất hồi sơ, tôi gợi chuyện:

- Cô đang đi học?

- Tôi vừa đi học vừa đi làm. Lấy GD xong thì học nghề y tá.

Vậy là cô không phải dân du học. Tôi hỏi tiếp:

- Cô đi làm ở đâu? Có gần đây không?

Vừa cất giấy tờ vào chiếc xách tay bẳng vải denim, cô vừa trả lời:

- Buổi chiều "moa" làm waitress ở nhà hàng kiếm tiền giúp "ông bà già". Thứ bảy tới võ trường dậy Judo. Cũng gần đây thôi.

Trời đất, nàng dậy Judo? Hèn gì tướng tá nàng nhiều nam tính hơn nữ tính, kể cả bộ ngực rất khiêm tốn của nàng. Nàng "ăn tiền" nhờ nụ cười tươi và đôi mắt long lanh như hai ánh sao. Tôi kéo dài câu chuyện:

- Wow... Cô dậy võ! Chắc đẳng cấp phải cao lắm?

Nàng dấm dẳng trả lời:

- Đai đen. Đệ nhất đẳng .

Bỗng nàng trở nên bực dọc, nói tiếp:

- Mẹ kiếp, dạo 54, ông bà cha mẹ tôi chạy bọn Việt Cộng trối chết. Năm ngoái chạy tiếp, kéo theo cả đàn con, trong đó có tôi.

Lần đầu tiên tôi mới nghe một cô gái chửi thề tỉnh bơ trước mặt nam giới chẳng ngại miệng. Bị kích thích vì tính khí khác người của nàng, tôi hỏi thêm:

- Gia đình cô có ai bị sót lại không?

- Ông anh rể và thằng em trai. Chẳng biết bây giờ ra sao.

Nàng chuẩn bị ra về. Tôi cố hỏi thêm:

- Gia đình cô ở gần đây?

- "Ông bà già" ở thành phố kế bên. Tôi ở đây với mẹ nuôi.

Câu trả lời của nàng tôi làm tôi thắc mắc, nhưng không dám hỏi thêm, sợ nàng gắn cho cái nhãn hiệu tò mò thì quê lắm. Những ngày sau đó, nghĩ đến vẻ ngang tàng và thái độ coi tôi như cục gạch của Lý, tôi cảm thấy thú vị và tự nhủ sẽ tìm hiểu hơn về nàng.
Sau mấy lần tiếp xúc với tôi trong công việc, Lý có vẻ thân thiện và cởi mở hơn. Nàng bảo nàng muốn học điều dưỡng vì hồi còn bên Việt Nam nàng có những kinh nghiệm không mấy đẹp với giới y tá bên đó. Thay vì "lương y như từ mẫu" thì phần đông họ dữ như hà bá, muốn làm "ma nhà thương" thay vì tiên nương áo trắng. Có dạo mẹ Lý đau nặng phải nằm bệnh viện . Tâm lý người bệnh thường lo sợ, và vì vậy hay gọi y tá. Gọi năm lần bảy lượt y tá mới đến, trợn mắt quát nạt:

- Đau thì ráng mà nhịn, kêu gì mà kêu hoài! Mỗi chút mỗi kêu. Bộ tôi làm đầy tớ mấy người hả?

Cảm nhận được tâm tình của những người bệnh qua chính mẹ mình, Lý muốn học làm bác sĩ, nhưng tự biết không đủ điều kiện nên cô quyết định học điều dưỡng. Tôi nhìn Lý, thán phục. Đằng sau cái bề ngoài ngang tàng và ngổ ngáo của nàng là một tấm lòng nhân ái vị tha.

Lý cho tôi biết hiện nay "ông bà già" đang ở với hai cậu con trai và bốn cô con gái trong một chung cư ở thành phố kế bên, chỉ cách nửa giờ lái xe. Lý là con thứ hai trong gia đình. Người chị cả của nàng ở căn apartment kế cạnh với bốn đứa con nhỏ. Đứa lớn mới có bảy tuổi. Đứa nhỏ nhất vừa ăn sinh nhật thứ hai tháng trước. Chị đang đi làm "house keeping" cho gia đình một ông mục sư. Mẹ Lý làm việc vặt trong nhà bếp của trường tiểu học địa phương và "ông gìa" nàng làm tài xế gia đình, đưa đón vợ con và bốn đứa cháu ngoại mỗi ngày. Lý bảo tôi nàng và "ông già" nàng kỵ tuổi nên rất khắc khẩu, hai cha con cứ xáp lại một lúc là có chuyện để hục hặc nhau.

Lúc còn bên Việt Nam, "ông già" đi làm trên Sàigon trong khi gia đình ở Biên Hòa do việc buôn bán của mẹ nàng ở đây. Là công chức trung cấp nhưng công việc của ông không có "tài ngoài" nên tiền lương của ông chẳng đủ nuôi bầy con chín đứa. Vì vậy, vợ ông phải tảo tần bán buôn với cái cửa hàng tạp hóa ngoài chợ. Ông ở trọ trên Sàigon với gia đình người anh, chỉ về với vợ con vào mỗi cuối tuần nên bao nhiêu chuyện trong gia đình ông giao phó hết cho vợ. Lý lén mẹ theo học Judo, cứ rảnh rỗi là vô võ trường đấm đá huỳnh huỵch. Có lần đấu biểu diễn, nàng bị người bạn đồng môn đá vẹo mũi. Nàng bảo "ông già" nàng bị té Honda để bị ông đánh cho một trận kinh hồn vì tội nói láo không có "căn". Té Honda mà sao chỉ vẹo lỗ mũi, còn thân thể chẳng có một vết trầy. Chưa học hết lớp mười hai thì Lý bỏ ngang đi làm, vì một cô bạn giới thiệu nàng vào làm thông dịch viên cho cơ quan DAO ở Sàigòn với số lương gấp ba số lương của ông già nàng! Ông già biết nàng đi làm sở Mỹ thì giận lắm. Ông chỉ vào mặt nàng quát :

- Tao chưa đến nỗi để cho chúng mày chết đói thì mày cũng đừng để người ta cười vào mặt tao! Nhục nhã lắm, mày có biết không?

Lý sợ, nhưng vẫn cố biện minh cho việc làm của mình. Nàng ra đứng gần cửa, chuẩn bị... chạy nếu bị đánh:

- Làm gì mà bố phải nhục? Bộ đi làm cho Mỹ là phải làm đĩ hay sao?

Ông già gầm lên:

- Mày còn già họng hả? Mày không làm đĩ, nhưng người ta cứ cho mày là đĩ! Mai đây có... chó nó cưới mày về làm vợ! Mày muốn làm gái già thì tao cho mày vừa ý! Tao không cần tiền của mày. Gia đình này chưa có chết đói!

Mặc cho "ông già" sỉ vả nàng cứ tiếp tục đi làm. Lý không muốn thấy mẹ đăm chiêu tính toán chuyện chi tiêu, mua sắm trong gia đình. Nàng muốn các em được ăn mặc tươm tất và không phải mang mặc cảm nghèo hèn với bạn bè. Bởi vậy, mỗi cuối tuần Lý sang nhà Hiền, cô bạn thân đã giới thiệu sở làm cho nàng , để lánh mặt và tránh những cơn lôi đình của ông già. Không chửi được Lý, thì ông quay qua tấn công vợ, đổ thừa vợ tham tiền, không răn đe con cái thay ông.

Nhưng rồi chính nàng là người đã cứu cả gia đình, đem mọi người di tản theo cơ quan hai ngày trước khi miền Nam lọt vào tay cộng sản Bắc Việt, kể cả bà chị lớn và bầy con nhỏ. Ông anh rể và người em trai của Lý không tháp tùng được vì lúc đó cơ quan của nàng không được phép di tản những người của quân đội. Lý nghe nói thế nào rồi họ cũng sẽ được di tản theo đơn vị khi có lệnh của cấp trên. Lúc lên xe ra phi trường, anh rể và em trai cô bịn rịn đưa tiễn, cố giấu những giọt nước mắt đằng sau cặp kính sậm mầu, không mấy tin vào ngày đoàn tụ trong một tương lai . Hai người đàn ông chấp nhận ở lại như một hy sinh cho sự sống còn của những người thân yêu . Nhìn mấy đứa cháu vươn mình lên cố quay lại nhìn bóng cha đang dần khuất phía sau xe nàng cắn răng nén khóc, ôm lấy mẹ đang rũ người trong những tiếng nấc đứt đoạn. Bố nàng mím chặt môi , hai con mắt đỏ hoe, một bàn tay nắm chặt, tay kia giơ cao vẫy chào từ biệt hai người con đang chay bên hông xe như cố thâu cho hết những hình ảnh cuối cùng của người thân vào trong trí nhớ.

Gia đình Lý rời trại tạm cư Pendleton do sự bảo lãnh của một gia đình ở Kansas. Khi mọi người đã tạm ổn định với cuộc sống mới, Lý bắt đầu xúc tiến việc lấy chứng chỉ GD vì đây là đòi hỏi đầu tiên của chương trình học điều dưỡng. Trong thời gian đi học, Lý chiếm được cảm tình của một bà giáo góa bụa không con. Bà nhận Lý làm con nuôi, đem nàng về ở với bà để nàng có thể chú tâm vào việc học. Bà mua cho nàng một chiếc xe tuy cũ nhưng còn khá để nàng di chuyển.

Tình bạn giữa tôi và Lý tăng theo tỉ lệ thuận với số ngày chúng tôi quen nhau. Tôi bị vẻ bạo dạn và tính tình ngay thẳng của nàng chinh phục, nhưng tôi biết mối quan hệ của chúng chưa có bóng dáng của tình yêu. Hình như Lý cố tránh né, không muốn cho tôi cơ hội để đến gần nàng hơn. Thỉnh thoảng đi coi movie ngoài trời với nhau, ngồi chung trong xe giữa môi trường rất riêng tư, nhưng tôi chưa bao giờ dám lộ một cử chỉ âu yếm thân mật nào với nàng . Có lần tôi đánh bạo kéo nàng lại gần để dò phản ứng. Lý dựa đầu vào vai tôi một cách... ngoan ngoãn, vừa nhai kẹo vừa theo dõi màn ảnh. Nhưng khi tôi vuốt ve cánh tay nàng, Lý liền bảo:

- Nhột! Lý không thích!

Tôi làm gan tán nhảm:

- Cho anh hôn thì hết nhột liền một khi!

Nàng hất tay tôi ra khỏi vai nàng, vênh mặt, bỉu môi:

- Đừng có ham. Để yên thì Lý tiếp tục đi chơi với, còn không thì nghỉ chơi luôn đi! Mấy người đàn ông sao ưa lộn xộn quá thể!

Tôi thở dài, để yên tay trên vai nàng. Tự nhiên tôi đâm ra ghiền cô con gái khô khan này mới khó hiểu. Hoa Thiên Lý là một loài hoa trắng nho nhỏ hiền lành. Người ta dựng giàn cho hoa leo để mùi thơm thoang thoảng của hoa làm dịu đi cái oi nồng của những ngày nóng cháy. Khi hoa gần tàn, người ta hái hoa nấu canh ăn cho mát. Nhưng Thiên Lý ngồi bên tôi lại là một hành trình ngàn dặm đầy thử thách mà tôi đang cố vượt qua.

Một hôm Lý mời tôi về nhà cha mẹ ruột để ăn mừng vì mới nhận được tin của người anh rể và đứa em trai từ Việt Nam. Họ vẫn còn sống nhưng đang bị nhốt trong mấy trại tập trung mà người ta gọi là "trường cải tạo". Từ ngày sang đây, bố nàng bớt khó khăn, bớt càm ràm với Lý, vì ông biết rằng nếu không nhờ nàng, nhờ cái "sở Mỹ" của nàng, thì giờ đây ông cũng đang đi tù "mút mùa lệ thủy". Đến nhà nàng hôm đó tôi mới biết là Lý rất khác các cô em gái và bà chị của nàng. Tất cả đều xinh đẹp hơn nàng, thùy mị hơn nàng, và ai cũng trang điểm phấn son. Lý đi làm với gương mặt trần, chỉ một chút má hồng và một thoáng phơn phớt son môi. Nàng thường mặc quần và áo sơ mi. Có một lần thấy nàng mặc váy và áo jacket mầu xanh nhạt, tôi khen nàng duyên dáng và đề nghị nàng mặc váy thường xuyên hơn. Nàng lắc đầu:

- Mặc váy vướng víu thấy "bà". "Chơi" quần jean là tiện nhất. Bộ đồ này bà già nuôi mua tặng nên "moa" mặc cho bà vui.

Lúc Lý ra đón tôi ở cửa tôi ngạc nhiên đến sững sờ! Lần đầu tiên tôi thấy nàng mặc áo dài! Nàng xinh đẹp một cách lạ lùng! Nữ tính nàng thể hiện rất rõ rệt qua làn tóc buông xõa trên bờ vai và chiếc áo dài ôm gọn thân hình thon thả của nàng. Tôi vẫn nghĩ chiếc áo dài Việt Nam là loại y phục kín đáo nhưng gợi cảm nhất thế giới, và lúc này, Lý là một nhân chứng hùng hồn nhất. Có lẽ tôi đã thật sự bị tiếng sét ái tình kể từ giây phút đó. Nhìn bản mặt ngơ ngẩn của tôi, Lý cười dòn:

- Coi kìa! Làm gì như kẻ mất hồn vậy hả?

Tôi nhìn nàng mê muội:

- Ừ, anh mất hồn thật. Hôm nay Lý đẹp như tiên giáng trần.

Lý cỏ vẻ thẹn thùng. Nàng nguýt yêu tôi và nói nhỏ:

- Nịnh đầm vừa vừa thôi nghen!

Lần đầu tiên gặp ông già của nàng tôi hơi khớp, nhưng ông cụ tiếp đãi tôi khá vui vẻ. Có lẽ ông cần đẩy nàng đi lấy chồng cho mau kẻo nàng mang họ ê sắc đến nơi. Nhìn mẹ nàng, tôi nghĩ có lẽ thời còn trẻ bà đã từng làm nhiều gã đàn ông đêm về ngủ mơ, vì nay tuy đã lớn tuổi mà bà còn mang nhiều nét ưa nhìn. Tóc bà điểm rất ít sợi bạc, da mặt bà trắng và mịn màng. Bà có nụ cười chừng mực quí phái. Các em gái của Lý giống bà, cô nào cũng nhẹ nhàng và đằm thắm, trong khi Lý có nhiều nét giống cha, nhất là cái vẻ mặt cứng cỏi, cương nghị của nàng.

Thời gian sau đó Lý mời tôi về nhà mẹ nuôi những khi nàng trổ tài nấu món ăn Việt Nam đãi bà. Hình như nàng cũng đã có nhiều cảm tình với tôi hơn, vì dạo này nàng không cự nự khi tôi gọi nàng bằng "em" hoặc "cưng" nữa, dù thỉnh thoảng nàng vẫn còn gọi tôi bằng những danh từ và đại danh từ chẳng mấy ngọt ngào . Tôi cũng vẫn chưa có can đảm nói câu "anh yêu em" với nàng. Sợ bị nàng cho "nghỉ chơi" thì buồn biết mấy!

Vài tuần lễ sau khi được tin của em và anh rể, nàng cũng nhận được tin Hiền, cô bạn ngày xưa đã từng "chứa chấp" mỗi khi nàng phải trốn tránh ông già. Vợ chồng Hiền cũng không chạy thoát được trong thời gian di tản, và cũng như anh rể và em trai của Lý, chồng Hiền đang ở tù vô hạn định. Lý đến báo tin mừng cho tôi biết, rồi tuyên bố:

- Lý phải nghỉ việc "chùa" ở USCC để đi kiếm thêm việc làm giúp con Hiền. Với lại cũng phải gởi tiếp tế về nhờ nó đi thăm nuôi em trai và anh rể của Lý luôn.

Lúc đó nàng sắp mãn khóa. Tôi sợ nàng đi làm nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến ngày ra trường, nhưng nàng bảo:

-Lý tự lượng sức mình, anh đừng lo.

Nghe nàng gọi mình bằng anh, tôi mừng hết lớn. Vậy là tôi cũng có một chút hy vọng được nàng cho ôm hôn một ngày đẹp trời nào đó!

Vừa đi học full time, vừa đi làm hai jobs, người Lý sút thấy rõ. Sau, nàng quyết định thôi dậy võ làm tôi mừng rỡ thở phào. Thỉnh thoảng tới võ trường xem nàng dậy, tôi sợ và phục nàng sát đất! Nàng nhảy tới, phóng lui, phạt ngang phạt dọc rồi chặt chém lung tung làm tôi chóng cả mặt. Học trò của nàng toàn là những tên Mỹ to lớn kềnh càng, có đứa to gấp đôi nàng. Tôi tự dặn lòng, đừng bao giờ dại dột chọc cho nàng giận! Nàng chỉ xách tôi lên quăng cho một cái thì gẫy xương, dập phổi!

Thời đó chưa có dịch vụ gởi tiền về Việt Nam. Người ta chỉ gởi quà, mỗi năm hai lần bằng hàng hóa. Bởi vậy, mỗi lúc rảnh rỗi, Lý đi mua thuốc tây, áo quần, xà bông, dầu gội đầu để dành. Khi thấy đã kha khá, Lý rủ tôi tới chợ Việt Nam gởi về cho Hiền, giao phó trách nhiệm đi nuôi ba người tù. Có lần Lý lén giấu tiền vào mấy thứ đồ chơi rồi viết note dặn Hiền đừng bán những món này, giữ lại cho con chơi! Lúc đó Hiền chưa có con, nên Hiền hiểu ám hiệu. Được vài ba lần thì bể mánh, công an Hải Quan tóm được, chẳng những bị tịch thâu tiền mà Hiền còn phải đi học lý thuyết ở công an phường hết mấy ngày! Thấy Lý vất vả quá tôi xót xa. Mỗi lần Lý đi mua hàng, tôi năn nỉ nàng cho tôi ké vài món, với lý do là tôi cũng thương tù như nàng vậy. Nàng miễn cưỡng nhận lời cho tôi vui. Khi đã lấy được bằng Registered Nurse rồi, Lý bảo tôi:

- Bây giờ Lý đi làm kiếm tiền cho con Hiền vượt biên. Khi nào nó sang tới đây thì Lý học tiếp lên cao.

Lúc đó ông bà già của Lý đòi dọn qua California ở, vì nghe bên đó có nhiều ngưòi Việt Nam, sinh hoạt cộng đồng náo nhiệt, nhất là khí hậu lại ôn hòa, ấm áp. Một lần nữa, họ chuẫn bị... di cư . Lý bảo tôi nàng muốn theo ông bà già, để có gì thì còn tiện bề thăm nom chăm sóc. Không muốn xa nàng, tôi vội xin nàng nhận tôi làm chồng. Nàng bảo:

- Lý nặng gánh lắm, anh không sợ à?

Nàng hỏi để mà hỏi, chứ nàng thừa biết là nàng đã cột chặt tôi vào ngón tay nàng từ lâu rồi! Nàng lại phán:

- Lấy Lý thì anh cũng phải "move" qua Cali!

Thế là tôi mau mắn ca bài "em ở đâu thì anh đó", xin nghỉ việc rồi từ giã cha mẹ lên đường theo vợ! Ông già nàng nghe tôi chịu theo nàng, có lẽ ông mừng phát khóc, vì cuối cùng cũng có đứa chịu được cô con gái " ngỗ nghịch" mà ông tưởng chẳng thằng đàn ông nào dám rớ tới vì sợ... vỡ mông. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức vội vàng để kịp ra đi vào thời gian bố mẹ nàng đã dự trù. Hôm đám hỏi, ông hỏi tuổi tôi rồi gật gù:

- Được... được đấy. Anh hơn nó một tuổi. Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một. Có điều anh phải ráng... dưới cơ nó một chút, vì nó cao số hơn anh!

Ôi, điều này ông không nói thì tôi cũng đã biết từ lâu. Nội việc tôi mau mắn từ giã gia đình, bỏ công bỏ việc để theo nàng cũng đã nói lên tất cả cái sự trên dưới của nàng và tôi rồi. Nàng theo đạo Phật, tôi theo đạo Tin lành. Chẳng có chùa chiền gì quanh đây, nên ông già nàng bằng lòng cho làm lễ cưới ở nhà thờ. Nàng còn nghĩ ra được một chuyện khác để thử thách sự dễ bảo của tôi:

- Hôm làm lễ ở nhà thờ Lý cho anh mặc đồ veston, nhưng lúc tiếp tân anh phải mặc áo dài khăn đóng.

Tôi không ham cái màn trình diễn thời trang đó chút nào, đang tìm cách thoái thác thì nàng phán, "Lý đã gởi mua cho anh rồi. Không mặc thì ông già không gả!"

Trời ơi đất hỡi, tống được con gái đi lấy chồng, đáng lẽ ổng phải mừng, phải thương tôi mới đúng, cớ sao mà còn hành hạ tôi cỡ này mới hả lòng? Đã trót thì phải trét (nói theo kiểu của mẹ nàng), tôi chẳng dám cãi. Hôm tiếp tân, tôi xém té mấy lần vì vấp ống quần. Gia đình tôi ai cũng có cảm tình với nàng, nên chẳng ai phàn nàn, bàn ra tán vào về đòi hỏi của gia đình nàng. Lúc tôi mặc thử bộ đồ "quốc hồn quốc tuý" lụng thụng, ai cũng phải cười nghiêng cười ngả.

Qua Cali, tôi và nàng may mắn kiếm được việc trong vòng hai tháng. Chúng tôi tìm mướn cho gia đình nàng một căn nhà bốn phòng ngủ gần khu chợ Việt Nam ở Westminster. Tôi và nàng thuê apartment gần nhà thương nàng làm. Hai vợ chồng đi làm trái giờ, nên mỗi đứa phải đi xe riêng. Trước khi Lý ra đi bà mẹ nuôi cho nàng một số tiền kha khá. Đáng lẽ dùng để làm downpayment mua một chiếc xe mới thì nàng lại quyết định:

- Thôi, em không mua xe mới đâu. Mắc nợ thêm mệt.

Vậy là tôi miễn cưỡng đưa nàng đi mua một chiếc xe second-hand, để nàng dành tiền gởi về cho Hiền tìm đường vượt biên, vì lúc đó phong trào vượt biên đang rầm rộ, và nhiều người đã sang được các trại tị nạn bên Thái, bên Phi. Tôi hỏi nàng:

- Nếu Hiền đi được thì ai sẽ lo cho ba người đang ở tù?

- Gia đình nó sẽ lo! Đi được người nào, hay người đó. Ở bên đó đói khổ lắm, tôi nghiệp nó anh à.

Tôi chẳng hiểu vì sao hai người đàn bà này thân nhau đến độ vợ tôi cứ lăn lóc đi làm, cứ cắc củm từng đồng, cứ nhịn tiêu xài để gởi về cho Hiền. Hiền cũng nghe lời khuyến khích của vợ tôi, nhưng đi chui mấy lần đều bị bể. Vài lần bị công an biên phòng bắt nhốt, vợ tôi lại gởi tiền về để gia đình Hiền lo lót cho nàng được thả. Lấy nhau vài năm mà Lý cũng chưa chịu có con . Tôi không vui thì nàng an ủi :

- Ráng thêm ít lâu nữa anh ạ! Thế nào Hiền cũng sẽ đi được thôi. Lúc nó qua đây đi làm kiếm tiền lo cho mấy người bên đó thì em nhẹ gánh, mình có con cũng không muộn !

Mấy năm sau Hiền vẫn chưa đi lọt. Vợ tôi bắt đầu thấy nản nên quyết định có con, vì sợ cái tuổi lý tưởng cho người đàn bà sanh con sẽ qua mất. Ngưng kế hoạch hóa mấy tháng mà chẳng thầy động tịnh gì, vợ tôi đi hỏi bác sĩ sản khoa. Bác sĩ nói nàng bị "stress" quá, làm việc nhiều quá, lại ngừa thai lâu nên bây giờ hơi khó thụ thai. Thế là tụi tôi phải đi trị bệnh hiếm muộn. Bác sĩ bắt nàng phải nghỉ ngơi, cắt bớt giờ làm việc ở nhà thương. Vợ tôi làm bớt giờ thì tiền lương hụt xuống. Để cho nàng yên tâm, tôi bèn xung phong đi làm thêm hai đêm cuối tuần ở một night club. Có hôm đi làm về mệt mỏi, tôi khuyên vợ tạm ngưng lo việc vượt biên của Hiền , chỉ nên chú trọng việc thăm nuôi ba người tù thôi, nhưng nàng không chịu. Lý rưng rưng bảo nàng tự thấy có bổn phận phải lo cho Hiền, vì dầu sao Hiền cũng là người gián tiếp đem lại những may mắn của gia đình nàng ngày nay. Càng ngày Lý càng cho tôi thấy rõ hơn cái tâm hồn cao quí của nàng và tôi yêu nàng hơn. Người ta chỉ thấy vợ tôi qua hình ảnh một người đàn bà bộ dạng cứng cỏi với những câu nói "bốp chát" và những thế võ kinh hồn . ..

Thương vợ, tôi tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt, cắm cúi đi làm bảy ngày một tuần, chẳng còn thì giờ và hơi sức đâu để đưa nàng dung dăng dung dẻ nơi này nơi kia , dù chung quanh có bao nhiêu bãi biển thơ mộng dọc con đường Highway I, từ chỗ chúng tôi chạy dài tới Long Beach. Phải thú thật, lắm lúc vợ chồng tôi cũng hục hặc điều qua tiếng lại vì tiền bạc không được xài thoải mái, nhưng luôn luôn tôi là người phải nhận lỗi và xin lỗi. Chỉ cần vợ cau mày là tôi đã muốn đầu hàng vô điều kiện, ngoại trừ mấy hôm lấy rượu làm thuốc liều tôi mới có can đảm nói những điều mà nàng bảo " nghe không lọt lỗ tai". Hèn gì ông già nàng hồi đó khuyên tôi phải chịu dưới cơ nàng. Con ổng tạo ra, ổng phải biết là đúng sách vở rồi! Đã chẳng thương tôi, mà mấy thằng em vợ còn mỉa mai :

- Anh sao sợ vợ quá xá, làm tụi tôi cũng khó ăn khó nói với mấy bà nhà này.

Tôi cãi, không phải là tôi sợ vợ, mà là tôi quá yêu vợ , không muốn làm vợ buồn. Thế thôi. Chưa bao giờ nàng phải xử dụng Judo để nói chuyện với tôi thì tôi có gì mà phải sợ!

Để rút ngắn câu chuyện , tôi xin nói ngay rằng sau khi Lý sanh đứa con đầu lòng được sáu tháng thì Hiền đi thoát và qua với vợ chồng tôi sau mấy tháng nằm đảo. Dĩ nhiên là vợ tôi mừng lắm lắm Tôi cũng mừng, vì từ nay không phải đi làm security ở night club mỗi cuối tuần, và có thêm thời giờ coi con thay vợ. Ngày trước Hiền cũng đi làm cơ quan DAO như vợ tôi nên qua đây cô tìm việc không khó lắm. Hiền vừa đi làm part-time tại một văn phòng bác sĩ, vừa đi học lớp "pharmacy technician".

Số là, hồi đó Hiền được một gia đình cho lên tầu, lấy trước một cây vàng, sau khi đến Mỹ thì vợ chồng tôi trả thêm cho họ hai ngàn nữa. Lý sai tôi ra ngân hàng vay tiền, vừa trả nợ cho Hiền vừa down cho nàng mua chiếc xe mới, vì giờ đây nàng muốn cho Hiền chiếc xe cũ của nàng. Tôi răm rắp nghe lời vợ, dậy Hiền lái xe mỗi cuối tuần! Hiền học lái mau lắm, thi chỉ một lần là đậu. Nhưng có một địều tôi không làm sao dậy nàng cho thành thạo được! Đó là việc de xe từ garage ra đường. Chả là cái garage nhà tôi nằm tuốt phía sau nhà. Mỗi lần đem xe ra đi làm, Hiền không thể nào de thẳng được! Hôm thì quẹt hàng rào, hôm thì leo vô sân cỏ! Trời mưa thì, ô hô, vườn cỏ của tôi tự nhiên có hai rãnh nước sâu hoắm. Mấy lần phải đắp đất trồng lại cỏ, tôi ước gì tôi có thể đá vào mông cô mấy cái cho cô bớt ngu! (Xin lỗi, tôi chửi lén cho đỡ tức).

Mấy năm sau, chồng Hiền, em trai và anh rể của Lý cũng lần lượt sang Mỹ sau nhiều đợt đi chui trầy da tróc vảy. Ngày nay thì ai cũng nhà cửa đề huề, công ăn việc làm chẳng thua kém những người đến trước là bao. Hiền và Lý lúc nào cũng như keo sơn, thương nhau còn hơn chị em ruột, lắm lúc làm tôi phát ghen, phát phiền lên được. Không phải chạy tiền gởi về VN nữa, vợ tôi đi học trở lại . Ngày nay nàng là một nurse practitioner tận tuỵ. Vợ chồng tôi có hai con, một trai một gái. Đứa con trai có tên trong giấy tờ là Benjamen, goị tắt là Ben. Đứa con gái tên Holly. Vậy mà nàng bắt mọi người gọi chúng là Biên và Hoà, để kỷ niệm nơi gia đình nàng cư ngụ lúc còn bên quê nhà. Mỗi tuần nàng bắt cha con tôi chở nhau đi học tiếng Việt, vì sợ con cái quên tiếng mẹ đẻ! Một hôm, sau lớp học, cha con tôi dẫn nhau đi ăn . Con gái tôi dõng dạc order đồ ăn:

- Chú cho bố cháu tô phở tái, cho anh cháu tô hủ tiếu Mỹ Tho. Còn cháu, một tô bún riêu không có huyết!

Anh chàng waiter ngạc nhiên, trợn mắt nhìn nó như nhìn một Maika từ trên trời rơi xuống. Cả phút sau, anh ta "hòan hồn", cười toe toét nói với cô waitress vừa đi tới:

- Trời đất ơi, cô bé người Mỹ này nói tiếng Việt rành hơn con Việt Nam!

Con gái tôi vội trả lời:

- Không phải! Cháu là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng chú ơi!

Cô waitress cười rũ người:

- Dóc quá đi! Người Việt Nam chính hiệu mà da trắng, mũi lõ!

Quay sang tôi, cô hỏi bằng tiếng Anh:

- Bé học tiếng Việt bao lâu rồi mà nói rành quá hả ông?

- Dạ... học từ hồi còn trong bụng mẹ!

Tôi trả lời bằng tiếng Việt. Thực khách mấy bàn xung quanh quay lại nhìn cha con tôi, ngạc nhiên và thích thú lắm.

Và, còn điều này nữa, tên cúng cơm của tôi là Calvin, mà suốt ngày nàng gọi tôi là Công, vì nàng tên Lý! Có công lý giữa vợ chồng tôi hay không thì tôi không dám chắc, nhưng tôi biết chắc là suốt đời tôi không bao giờ dám "kháng án" dù nàng có xử ức cho tôi cỡ nào chăng nữa ! Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông gìa vợ tôi nói câu "Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một"! Tôi sanh nhằm năm con trâu, còn nàng sanh năm con cọp. Nhiều khi tôi tự hỏi cha con tôi là người Việt gốc Mỹ, hay người Mỹ gốc Việt?
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #34  
Cũ 08-08-2009, 08:35 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
Người Bạn Đường
Nguyễn Lê (vietbao)

Tôi may mắn gặp cô bé, sau này là người bạn đường trăm năm của tôi. Trong một dịp tình cờ khi đến văn phòng quảng cáo thì gặp chị của cô bé và cô bé cùng ở văn phòng.

Lần đầu tiên nhìn cô bé tôi đã có cảm tình ngay. Cô nàng mới 17 tuổi, tuổi học trò. Vẻ e ấp, thẹn thùng, ngây thơ, trong trắng hồn nhiên hiện ra ngay hồi mới gặp. Cô như một bông hoa chớm nở, môi đỏ, da trắng với những đường gân xanh trên khuôn mặt. Mắt xanh, có đuôi với đôi hàng lông mày đậm, nổi bật dưới mái tóc kiểu Sylvie Vartan.

Tôi chinh phục được trái tim cô nàng không bằng hẹn hò đi chơi đây đó mà khuyến khích cô cố gắng học hành thi đậu 2 phần tú tài. Được sự đồng thuận của ba mẹ nàng sau khi trả lời thông suốt các tín điều công giáo.

Sau năm năm chờ đợi, cuối cùng tôi đã đưa nàng về điều khiển một trường chuyên nghiệp dạy nữ công gia chánh. Khi khai trương ngôi trường, tôi có nói đùa với cô nàng mai mốt phát đạt, nàng tậu cho tôi chiếc xe hơi Mazda 1000.

Năm 1974 xe hơi Mazda, Toyota Corona là món hàng ưa chuộng tại Việt Nam.

Cô nàng điều khiển ngôi trường dễ dàng, thu hút học viên đông đảo. Hoạt động được gần một năm thì đến ngày 30 tháng 4 năm 75, với cuộc di tản của 100,000 người Việt qua Mỹ. Cô bé và cháu gái của tôi thoát khỏi VN và cuối cùng định cư tại thành phố Philadelphia.

Để cho cô nàng quen thuộc với việc điều hành một nhà hàng, tôi khuyến khích nàng đầu quân tại tiệm Mc Donald. Lần đầu tiên vào tiệm McDonald tôi rất ngỡ ngàng, không quen tên gọi các món hamburger. Tai nghe tiếng Mỹ lạ hoắc mặc dầu đã có căn bản về Anh ngữ.

Đầu quân Mc Donald được vài tháng với số lương tối thiểu 2 dollars 30 cent/1 giờ ngày đực ngày cái. Hôm nào vắng khách, quản lý tiệm (manager) cám ơn và bấm thẻ đi về. Chủ tâm không làm lâu dài trong thời gian tôi chuẩn bị mua nhà, sửa sang ngôi nhà thành một tiệm ăn, bán đồ ăn VN, đem chuông đi đánh xứ người. Hồi mới qua năm 1975, chỉ thấy toàn tiệm ăn Chinese food. Tôi làm cách mạng vẽ bảng mang tên hiệu Việt Nam và dòng chữ dưới tên bảng hiệu đề tên Vietnamese Cuisine.

Sau gần một năm hoạt động thân chủ toàn người Việt tỵ nạn nhớ nhà, nhớ quê, nhớ món ăn Việt Nam, tới tiệm thưởng thức đồ ăn VN 100%: Phở, bún thịt nước, bánh cuốn, hủ tiếu Mỹ Tho, chả giò, gỏi cuốn, bò nướng lá lốt, bò lúc lắc, gà xào xả ớt, nem nướng, cơm tấm bì chả….

Giờ mở cửa từ 10 giờ sáng tới 10 giờ tối. 9 giờ 30 sáng khách đã chờ ở cửa đòi vào uống cà phê phin trong khi chờ đợi tô phở, tô hủ tiếu thơm phức.

Chiều ý khách hàng, lại nữa chân ướt, chân ráo mới lập tiệm, nhà tôi cố gắng hết sức thức khuya, dậy sớm chuẩn bị đồ ăn lúc nào cũng đầy đủ. Khách hàng đến nhà hàng không bao giờ thất vọng vì gọi món ăn mà không được thõa mãn.

Sáu tháng sau ngày khai trương, một số nhà báo Mỹ ẩn danh đến nhà hàng ăn thử và viết bài tường thuật. Báo ra ngày thứ sáu cho khách hàng chuẩn bị cuối tuần đi ăn. Có nhà báo tận tiểu bang Delware, New Jersey, tới ăn và đăng bài. Đài truyền hình số 10 đến phỏng vấn và ăn thử được nhà tôi tiếp đón và biểu diễn cách nấu nướng trên đài truyền hình. Họ vào tận trong bếp quay phim nhà tôi chuẩn bị các món ăn.

Liên tiếp trong gần 25 năm trời, cái thích thú duy nhất của nhà tôi là nấu nướng phục vụ khách hàng. Khách hàng Mỹ, sau khi ăn uống xong đòi vào tận nhà bếp để cám ơn nhà tôi. Họ nói rất khéo léo, xã giao là nhờ có nhà tôi mà họ được thưởng thức các món ăn tuyệt vời như vậy. Họ còn căn dặn thêm là lúc nào cũng phải giữ gìn sức khỏe, đừng quá miệt mài trong công việc.

Nhiều khi nấu nướng xong, nhà tôi ra phòng ăn trò chuyện với khách hàng cả tiếng đồng hồ. Khách hàng một số là bác sĩ, luật sư, dược sĩ… họ tới để thưởng thức món ăn Việt và trò chuyện. Nhiều khi họ hỏi han sức khỏe, công việc. Tiện dịp nhà tôi kể chuyện có một người hàng xóm gần tiệm, thấy tiệm đông khách, tìm cớ kiện nhà hàng viện dẫn lý do té trước tiệm với sự đồng lõa của một luật sư vô lương tâm. Vị luật sư khách hàng của chúng tôi tình nguyện đại diện trước tòa bảo vệ cho chúng tôi. Cuối cùng ông luật sư vô lương tâm bị tù vì âm mưu giết nhân chứng nên đơn kiện chúng tôi trở nên vô hiệu.

Ông anh tôi và bà chị dâu từ Pháp qua chơi và ăn uống tại nhà hàng, thấy nhà tôi tung hoành đánh đông dẹp bắc điều khiển nhà hàng đông nghẹt khách hàng, trong bụng thầm phục.

Nhà tôi nói nhỏ với ông phụ bếp, hồi còn ở Việt Nam bà chị dâu chê là tôi lấy vợ học sinh không biết làm ăn. Ông anh tôi tình cờ ở phòng ăn bên ngoài nghe được câu chuyện nói vọng vào trong bếp: “Nào tôi có biết! Ai ngờ cô hay vậy”. Bà chị dâu của tôi nói thêm: “Tôi nhìn cô làm việc trong bếp mà chóng cả mặt, cả mày”.

Nhà tôi nghe những điều dị nghị, chê bai thật nhiều ngay từ hồi còn ở VN nhưng đều giữ kín trong lòng và lấy phương châm làm việc làm câu trả lời.

Để tưởng thưởng cho sự vất vả của nhà tôi, nên năm nào cũng vậy từ ngày mở cửa nhà hàng tới hiện nay, chúng tôi đều đóng cửa một tháng nhân dịp mùa hè vào tháng 7, chưa kể ngày lễ, ngày Tết đóng cửa xả hơi.

Những dịp nghỉ hè, tôi đưa nhà tôi và 2 cháu đi du lịch khắp 5 châu từ Âu sang Á lên tận Alaska.

Ngoài thú say mê nấu nướng, nhà tôi còn thích cái món các bà các cô đều say mê là kim cương hột xoàn. Nhờ vậy mà chúng tôi thông hiểu phần nào khi mua sắm hột xoàn dựa trên tiêu chuẩn 4C (carat, cut, color, clarity) hơn nữa mỗi viên hột xoàn có giá trị đều mang theo một giấy khai sinh do viện GIA cấp. Trong giấy kê khai đầy đủ lý lịch của viên hột xoàn. Hồi ở còn VN khi mua hột xoàn ta thường chỉ để ý đến viên hột xoàn ly lớn, màu trắng không vàng khè, không bọt, không than.

Trong một dịp đi New York City, nhà tôi vào một tiệm kim hoàn. Ông bà chủ tiệm qua vài câu chuyện đã đưa cho nhà tôi một chiếc nhẫn hột xoàn 7 ly đem về đeo thử mà không cần phải trả một đồng nào. Từ sự tin tưởng đó chúng tôi dễ dàng hùn hạp kinh doanh và cũng từ đó 2 gia đình trở nên thân mật coi nhau như người trong một gia đình.

Hè năm 2003, bà xã tôi tham dự một đám cưới của con một người bạn thân tại quận Cam, bang California. Một ông bạn thấy bà xã tôi còn trẻ nói với mấy người bạn ngồi gần, tôi đi chơi đem bà nhỏ đi theo, còn bà lớn bắt ở nhà nấu nướng trông nom nhà hàng. Nhân tiện trong tiệc cưới tôi mời người bạn phù rể ra làm nhân chứng, trắng đen rõ rệt.

Say mê nấu nướng và đồ trang sức nhưng ưu tiên hàng đầu của nhà tôi là giáo dục con cái. Sinh tại Mỹ mà đấng con trai của tôi nói tiếng Việt không thua gì Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Trong một dịp đi thăm phong cảnh, cậu nhìn các lâu đài và nói với mẹ những tòa nhà “cổ kính” những biệt thự “nguy nga, tráng lệ”…. Con yêu mẹ nhiều như nước trên đại dương, không đếm được như các sợi tóc trên đầu mẹ…. Con có gì xứng đáng đâu mà mẹ đặc biệt với con vậy!

Đích thân nhà tôi chọn trường cho con học. Bậc trung học con trai tôi theo học trường kiểu mẫu, lựa chọn học sinh ưu tú cho vô học. Vô học University of Pern, con trai tôi được học bổng toàn phần.

“Sau lưng, một người thành công, thấp thoáng có bóng dáng một người đàn bà”. Nghe câu nói này của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn trong băng video Thúy Nga, chúng tôi thấy đúng với riêng trường hợp của vợ chồng chúng tôi. Bà xã tôi nghe cũng mỉm cười đồng ý.

Cuối cùng tôi chỉ có một điều luyến tiếc duy nhất là mẹ nàng đã vội vã ra đi quá sớm không được chứng kiến sự trưởng thành và mức thành công vượt bực của cô con gái yêu quý mà bà từng hãnh diện với họ hàng và bạn bè.
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
  #35  
Cũ 13-11-2009, 07:16 AM
may4phuong may4phuong is offline
Thành viên chính thức
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài viết: 1,490
Cảm ơn vì bài viết: 0
Được cảm ơn 467 lần trong 284 bài viết
may4phuong is on a distinguished road
một manh chiếu rách thân tơi tả
hai chén cơm hôi xác mỏi mòn
ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
đêm về giấc ngủ lại thương con
còn bao nước chảy qua cầu nữa?
hồ dễ gì phai tấm lòng son

(Vũ Hoàng Chương)


Xuân Tạ Ơn Người
Thảo Nguyên

Người Việt tha hương ai mà không nhớ mùa xuân một chín bảy lăm. Đó là mùa xuân buồn thảm, tan vỡ và phân ly. Một mùa xuân đánh dấu sự sụp đổ của chế độ tự do để thay thế bằng một chế độ mà nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết rằng:

Tình đến trong những ngày địa ngục
Trong những ngày cướp của sát nhân
Trong những ngày nhãn hiệu nhân dân
Dán bừa bãi lên hành vi bạo ngược


Cả một trời thơ mộng không còn nữa. Em đã bỏ chiếc áo dài trắng học trò dưới đáy rương và sân trường vắng tiếng nô đùa để đi ra nông trường đào kinh, cuốc đất. Cả một nửa nước vừa mới đây rộn rã tiếng cười mà chỉ trong mấy ngày cuối tháng Tư đã chìm sâu trong nỗi lo âu lên từng mỗi con nguời.

Nhưng đối với những chàng trai trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì mùa xuân 1975 còn mang một ý nghĩa khác nữa, đó là mùa Xuân tạ ơn người. Tôi muốn nói đến những nỗi truân chuyên, đau khổ của những bà vợ trẻ người lính Việt Nam Cộng Hòa khi ấy.

Người đàn bà Việt Nam hy sinh và chịu đựng. Nàng sinh ra để lo cho cha mẹ, chồng con. Đã có biết bao nhiêu văn nhân, thi sĩ thời danh trong văn học viết lên điều này. Ta hãy nghe thi sĩ Hồ Zếnh nói về cô gái Việt Nam.

Cô gái Việt Nam ơi
Từ thuở sinh ra đã khổ rồi
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Viêt Nam tươi


Xa hơn nữa, hơn nửa thế kỷ trước nhà thơ Trần Tế Xương cũng đã viết về người vợ đảm đang, khốn khổ của mình

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi nổi năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông


Nhưng cô gái trẻ thời ông Tú Xương, đi về nhà người ta làm vợ, thành những bà mẹ Việt Nam, hy sinh lặn lội nuôi chồng tuy có khổ cực nhưng được sống trong thanh bình, vẫn được ngợi ca. Khác hẳn với những cô gái trẻ làm vợ, trở thành bà mẹ Việt nam sau năm 1975. Cũng lặn lội thân cò nuôi con nuôi chồng nhưng bị bạc đãi, kỳ thị và khinh rẻ bởi một chế độ quái đản phi nhân như Cộng Sản. Tuy vậy, những nàng dâu của quân đội miền Nam vẫn đi trọn vẹn con đường làm vợ, làm mẹ của mình dù trải qua bao nhiêu chông gai trên dòng đời Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nàng đã đi vào văn học sử với những dòng thơ.

Nàng về tắm lại dòng sông mộng
Giặt áo chàng phơi dưới nắng mơ
Sông nước miền Nam dù biến đổi
Nàng dâu Năm ấy vẫn là thơ


Tôi có một anh bạn thân, di tản từ miền Trung về đến Sài Gòn. Sau 30 tháng Tư, anh mời tôi đến nhà mừng anh cưới vợ. Cô dâu vừa tròn mười tám tuổi. Ngày cưới anh chàng vẫn mặc quần đùi, bận bịu cùng người nhà nấu nướng. Cô dâu cũng chẳng hơn gì. Khi giới thiệu chàng và nàng cùng hai họ, cô dâu chỉ mặc một chiếc áo dài trắng còn thêu tên một trường nữ trung học ngoài Đà Nẵng. Mười ngày sau, anh lên đường đi "cải tạo". Tình yêu của họ đáng thương hơn cả người chiến sĩ chống Pháp Hữu Loan ngày trước. Tôi xin sửa vài chữ trong bài thơ Màu tím hoa sim cho hợp với tình cảnh của anh.

Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng thua trận
Chàng ở miền Trung về
Cưới nhau xong là đi
Từ trại tù xa... nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời tù binh
Mấy người đi trở lại


Ngày xưa Hữu Loan cưới vợ xong thì đi chiến đấu. Bây giờ anh bạn tôi cưới vợ xong là khăn gói vào tù. Ai đau đớn hơn ai. Trong tù tôi thấy anh ngồi bó gối im lặng, thỉnh thoảng kéo một hơi thuốc lào vang sòng sọc. Một năm sau địch đưa chúng tôi ra Bắc. Thôi thế là xong. Tôi nghĩ mà thương cho mối tình của hai người thật là ngắn ngủi. Nhưng mà tôi đã lầm lẫn lớn, bởi vì mấy năm sau khi kẻ thù cho thăm nuôi, anh bạn tôi đã sung sướng hãnh diện được cô vợ trẻ lặn lội từ Nam ra Bắc, săn sóc lo lắng tận tình. Chị vẫn giữ được tấm lòng thuỷ chung son sắt, vẫn đi qua được những cám dỗ của cuộc đời đầy những nhiễu nhương bất trắc.

Hơn sáu năm sau anh bạn tôi mới trở về. Hai vợ chồng chung lo cuộc sống. Chị không quản ngại lo lắng đỡ đần mỗi khi anh trở bệnh. Căn bệnh mà Cộng Sản thân tặng cho anh với những tháng ngày đói ăn mà làm cho kiệt sức. Bây giờ nơi đất lạ, anh chị đã có ba cháu rất ngoan. Chị trông rất trẻ khác hẳn với anh già yếu hom hem nhưng chẳng hề gì, cuộc sống của họ vẫn vô cùng hạnh phúc. Mỗi lần tâm sự với tôi anh thường bảo: Xin cảm ơn người vợ Việt Nam. Nếu không có phong tục văn hóa phương Đông mà chị đã thấm nhuần từ khi khôn lớn, thì gia đình anh khó có ngày hạnh phúc như hôm nay.

Ta hãy nghe một dòng thơ của một anh chàng cải tạo viết tặng vợ hiền:

Có những nàng dâu hiền năm ấy
Một thời son trẻ tặng cho chồng
Gánh gạo nuôi anh, người chiến bại
Má hồng phai sắc, chẳng phai lòng


Còn một anh chàng nữa mà tôi quen, là dân Biệt Động Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chị thương anh vì những câu thơ tình cờ đọc ở trên báo ngày xưa.

Đoàn chiến sĩ mũ nâu
Lùng giặc giữa rừng sâu
Quên đi mùa xuân đến
Hoa mai nở trên đầu


Cái hình ảnh lùng giặc giữa rừng sâu quên cả mùa xuân đến của anh làm chị thương thương quá. Gặp gỡ rồi yêu nhau. Đám cưới của họ hoãn đi hoãn lại mấy lần vì đến ngày cưới rồi mà tiền đồn của chàng bị địch quân vây chặt, trực thăng không thể đáp xuống để mang chú rể đến với cô dâu. Rồi cũng có một ngày chàng được trở về. Ngày cưới đúng y chang như trong thơ Hữu Loan thời đi kháng chiến.

Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Chàng mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng Biệt động


Năm ba tháng một lần gặp nhau cho đến ngày buông súng thì họ đã có hai con. Trình diện vào tù anh để lại cho người vợ hiền hai đứa con nhỏ dại. Đứa thứ nhất mới hơn một tuổi và đứa thứ hai vừa tròn hai tháng. Chị đi dạy học ở xa nhà nên phải gửi hai con cho nội, ngoại, cuối tuần mới được gặp con. Trăm thứ khổ đổ lên đầu người cô phụ. Ở trường bọn cán bộ miền Bắc lên lớp, nhiếc móc hàng ngày. Bọn giáo sư nằm vùng ghen ghét vì chị là vợ sĩ quan Biệt Động Ngụy. Bà mẹ chồng hoài nghi mai mỉa. Có một anh chàng kỹ sư cầu cống còn rất trẻ, thông cảm và xót xa cho hoàn cảnh chị, đem lòng yêu thương muốn bảo bọc cả ba mẹ con và toan tính vượt biển ra đi.

Chị vẫn lắc đầu chờ đợi chồng về, cho dù người đi không hẹn ngày trở lại. Chàng tuổi trẻ đành vượt biển một mình nhưng vẫn không quên người thiếu phụ yêu dấu ở quê nhà. Chị càng trung trinh chờ đợi, càng làm người yêu chị mê say. Những lá thư hối thúc hứa hẹn đôi lúc cũng làm chị xiêu lòng. Giữa lúc tâm hồn mềm yếu nhất thì may thay anh được trở về. Chị mừng hơn anh tưởng vì chính ngày về của anh đã cứu chị thoát khỏi sự sa ngã của cuộc đời. Hai vợ chồng toan tính chuyện ra đi ngay sau đó.

Nhưng định mệnh vẫn còn đeo đuổi và thử thách chị. Chuyến đi chỉ thành công một nửa. Chị và một đứa con thoát được lên tàu trong khi anh và đứa con khác còn lại trên bờ. Thôi thế là xong, ngàn trùng xa cách. Thuở ấy năm 1981, giữa Mỹ với Việt nam cách nhau như thiên đàng và địa ngục, mong gì còn gặp lại. Nhất là anh chàng kỹ sư trẻ tuổi yêu chị ngày xưa, vẫn chờ vẫn đợi sẵn sàng đón chị về dinh.

Thế nhưng thời gian và thử thách không hề làm chị thay lòng. Ba năm sau chị và đứa con trai lớn hân hoan đón chồng và đứa con thứ hai đoàn tụ. Sau nhiều lần vượt biển gian nguy, cuối cùng anh tìm được vợ hiền. Sáu năm anh ở tù và ba năm xa cách, như thế vợ chồng anh chị đã chia lìa hết chín năm. Rồi họ có thêm một cô con gái nữa. Bây giờ tóc cả hai đã bạc. Anh thuờng ngâm nga những vần thơ tặng chị.

Xin một phút giây trong dĩ vãng
Để nhìn mái tóc mượt nhung xưa
Xin viết ngàn câu thơ lãng mạn
Để thương mái tóc bạc bây giờ


Hạnh phúc ngay trong tầm tay. Hạnh phúc quẩn quanh đâu đó trong gia đình anh chị, nào phải tìm đâu xa. Xin tạ ơn nàng.

Lại còn một câu chuyện nữa mà tôi muốn kể. Đây là chuyện thực mà nghe như tiểu thuyết, nói theo kiểu của Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bây giờ là bởi vì nó lãng mạn cực kỳ. Chàng và nàng không chơi tìm bạn bốn phương, không có email như bây giờ để mà có cảnh " You’ve got mail". Chỉ là một bài thơ mà chàng đọc được trong thư viện của một quân trường đại học trên đất Đà Lạt mù sương rồi anh cố tìm đến người viết những dòng tình thơ đó. Họ gặp nhau sau nhiều tháng gian nan tìm kiếm ở Sàigòn. Sau đó chàng tốt nghiệp xuống núi đi vào nơi lửa đạn như bài hát trữ tình của cụ Phạm Duy.

...Anh sẽ ra đi về miền cát trắng, nơi có quê hương mịt mờ thuốc súng. Anh sẽ ra đi về miền mênh mông... Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về.

Nơi thủ đô cô nữ sinh Gia long vẫn đợi. Chàng đi xuyên suốt mùa chinh chiến cho đến ngày buông súng rồi đi thẳng vào trại tù cộng sản. Chao ôi đau đớn quá. Tưởng có ngày vinh quang "gìặc tan đón em về", nào giờ giặc tan anh đi cải tạo. Thế mà người con gái Việt Nam vẫn chờ vẫn đợi, vẫn thăm nom an ủi anh trong những bước bần cùng. Hơn một năm sau chàng trai vượt ngục vì không chịu nổi những phét lác, phỉnh phờ của người Cộng Sản. Chàng và nàng hội ngộ trong nỗi phập phồng lo sợ không có ngày mai. Chàng chỉ muốn trở về để từ giã nàng lần cuối để lên đường đi chiến đấu, vì biết rằng lần đi này sẽ không bao giờ trở lại.

Để xác định lòng chung thuỷ của mình nàng muốn hai người làm lễ thành hôn. Họ là người có đạo nên phải tìm một vị linh mục ban cho bí tích hôn nhân. Đám cưới chui vừa lãng mạn lại vừa bi thảm. Nó là một bi kịch mà chỉ ở Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa mới sản sinh ra được. Thuở trước tôi có coi phim Africa Queen do Katherine Hepburn và Humphey Bogart thủ vai chính trong đó có cảnh hai người trước khi bị quân Đức xử tử, xin kẻ thù cho được cử hành lễ cưới để thành chồng vợ. Bấy nhiêu thôi đã làm tôi xúc động. Nhưng đó là chuyện trong phim. Giờ đây là chuyện thật của chàng trai Việt Nam thời chiến và cô gái học trò Gia long. Sống động và bi thảm hơn nhiều.

Nhưng chuyện không dừng ở đó. Tôi muốn kể thêm đoạn cuối cho đẹp lòng người đọc. Chàng đi vào rừng nhưng không gặp được những người đồng chí, đành lầm lũi quay về tìm con đường khác ở một miền ven biển. Đêm cuối cùng rời khỏi Việt nam chàng bế nàng lội qua những vũng lầy, đặt nàng vào con thuyền mong manh trong biển Đông dậy sóng. Họ đến được bờ biển Nam Dương năm ngày sau đó. Còn chiếc thuyền hoa nào hạnh phúc hơn chiếc thuyền vượt biển của đôi uyên ương mà tôi vừa kể. Xin cảm ơn nàng với những dòng thơ.

Biển dâu thay đổi đời đen trắng
Nàng dâu năm cũ vẫn bên chồng
Vẫn mơ giặt áo trên sông mộng
Để nhớ vườn dâu kỷ niệm hồng


Mùa xuân đã đến đây rồi. Mùa xuân này nhớ đến giọt nước mắt của mùa xuân trước. Những mùa xuân đày đọa quê hương, đọa đày em tôi, mẹ tôi trong lầm than cùng khổ.

Xin tạ ơn em, tạ ơn bà mẹ Việt nam đã gìn giữ cho tôi có một mái ấm gia đình. Đó là một nền tảng vững chắc cho đất nước và những thế hệ mai sau.
Trả lời kèm trích dẫn từ bài viết  này
Trả lời


Đang xem chủ đề này: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ

Quyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể mở thread mới
Bạn không thểstrong> trã lời
Bạn không thể gắn đính kèm
Bạn không thể sửa bài của bạn

BB code is Bật
Mặt cười đang Bật
[IMG] đang Bật
HTML đang Tắt



Thời gian được tính theo múi giờ: GMT +7, bây giờ là 06:44 PM


vBulletin phiên bản 3.8.4
Copyright ©2000 - 2010, Jelsoft Enterprises Ltd.
Advertisement System V2.5 By   Branden